Lá sen là một loại thảo dược quý với nhiều công dụng như thanh nhiệt, giải độc, lợi thấp, chỉ huyết và an thần. Nó chứa các hoạt chất như Nuciferin, Nornuciferin, Roemerin, giúp điều trị các chứng bệnh như thử thấp tiết tả, thuỷ chí phù thũng, nôn ra máu, chảy máu cam. Ngoài ra, lá sen cũng có tác dụng chống bệnh đái tháo đường, béo phì, rối loạn lipid máu, ung thư và viêm.
Tìm hiểu chung về Sen (Lá)
Tên gọi, danh pháp
- Tên Việt: Lá sen.
- Tên gọi khác: Liên diệp, Hà diệp, Lotus leaf (tiếng Anh), He ye (tiếng Trung Quốc).
- Danh pháp khoa học: Folium Nelumbinis, chính là lá của cây sen (Nelumbo nucifera Gaertn.). Thuộc họ Sen (Nelumbonaceae).
Đặc điểm tự nhiên
- Sen là loài thảo dược sống dưới nước, thân cây phát triển mạnh mẽ, chiều cao vượt quá 1m. Hệ rễ (hay còn gọi là ngó sen) phì đại, kéo dài bò ngang trong lớp bùn, với những điểm bám rễ phân tán, từ đó mọc lên các thân lá.
- Lá có hình tròn đặc trưng, phần lá vươn cao trên mặt nước, đường kính khoảng 30 – 40cm, tô màu lục xám, cạnh lá lượn sóng nguyên vẹn, phần trung tâm lá thường có vết lõm sâu, mặt dưới lá đôi khi có những điểm tím nhạt phân tán, gân lá hình khiên nổi rõ, cuống lá dính chặt vào điểm giữa lá với chiều dài khoảng 1m trở lên, mặt cuống có nhiều gai cứng nhọn.
Phân bố, thu hái, chế biến
- Cây sen phân bố rộng rãi ở các quốc gia Châu Á như Việt Nam, Thái Lan, Trung Quốc, Sri Lanka, Ấn Độ, Nepal, New Guinea và Nhật Bản. Ngoài khu vực Châu Á, loài này còn xuất hiện tự nhiên ở Úc, Nga, và đã được con người đưa vào trồng ở Tây Úc cũng như các khu vực Châu Mỹ từ thời xưa.
- Cây sen được nhiều người công nhận vì vẻ đẹp tuyệt vời của hoa, và từ lâu đã trở thành biểu tượng tâm linh thiêng liêng trong các tôn giáo Phật giáo, Ấn Độ giáo và Ai Cập từ thời cổ đại. Những bông hoa phát triển rất lớn, sắc sỡ tươi sáng, được các tín đồ Ấn Độ giáo xem là biểu tượng thánh thiêng, trong khi toàn bộ cây được coi là thiêng liêng theo quan niệm của các tín đồ Phật giáo. Chính nhờ sắc đẹp ấy mà hoa sen được lựa chọn làm quốc hoa của Ấn Độ và Việt Nam.
- Quá trình thu hái lá sen diễn ra vào mùa thu. Thông thường, sau khi hoa sen nở rộ, người ta tiến hành hái lá, sau đó phơi khô cho đạt khoảng 8 phần 10 độ khô, loại bỏ cuống, gấp lá làm đôi thành nửa hình tròn, tiếp tục phơi khô hoàn toàn, rồi xếp lại để được dược liệu Hà diệp.
- Dược liệu Hà diệp chất lượng tốt phải đạt các tiêu chuẩn: lá to, khô hoàn toàn, màu lục tươi, không có dấu hiệu bị sâu kỵ, không bị thủng hay lấm ố, bề mặt nguyên vẹn không nát.
Bộ phận sử dụng
- Phần được sử dụng từ cây sen là lá đã được phơi khô.
Thành phần hóa học
- Lá sen chứa các hoạt chất chính gồm Nuciferin, Nornuciferin, Roemerin, Armepavine, Pronuciferine, N-nornuciferine, Anonaine, Liriodenine, Quercetin, Tartaric acid, Gluconic acid, Acetic acid, Malic acid, Ginnol, Nonadecane, Succinic, Quercetin-3-O-β-D-glucuronide, Quercetin 3-O-β-D-xylopyranosyl-β-D-galactopyranoside, Rutin, Isoquercitrin, Hyperin.
- Theo các tài liệu khoa học, từ 33kg lá sen đã được các nhà nghiên cứu phân lập thành công 0,2g Nuciferin, 8g Roemerin và 11g Nornuciferin.
Công dụng của Sen (Lá)
Theo y học cổ truyền
- Lá sen được ghi nhận trong y văn cổ truyền có vị đắng, tính bình, quy vào ba kinh Can, Tỳ và Vị. Phổ tác dụng của dược liệu bao gồm thanh nhiệt giải độc, lợi thấp, chỉ huyết và an thần. Trong thực hành lâm sàng, lá sen được ứng dụng để điều trị các chứng bệnh như thử thấp tiết tả, thuỷ chí phù thũng, nôn ra máu, chảy máu cam, lôi đầu phong, cũng như băng trung huyết lỵ.
Theo y học hiện đại
Chống bệnh đái tháo đường
- Các mô hình thực nghiệm cả in vitro lẫn trên động vật đã chứng thực rằng chiết xuất lá sen và catechin đều có khả năng điều chỉnh nồng độ glucose máu, từ đó cải thiện hiệu quả tình trạng tăng glucose hậu ăn ở nhóm bệnh nhân đái tháo đường. Theo các chuyên gia, chiết xuất lá sen và catechin được xem là tiềm năng trong kiểm soát tăng đường huyết ở bệnh nhân đái tháo đường không phụ thuộc insulin, mặc dù cơ chế tác động chi tiết của catechin lên tế bào β và quá trình chuyển hóa glucose vẫn cần được làm sáng tỏ hơn. Bên cạnh đó, quercetin và glycoside có mặt trong lá sen có khả năng ức chế hoạt tính của men aldose reductase — một enzyme có vai trò trong sự phát triển các biến chứng tiểu đường.
Chống béo phì và rối loạn lipid máu
- Béo phì hiện được công nhận là yếu tố rủi ro chính đối với nhiều bệnh mạn tính. Ở Trung Quốc, chiết xuất lá sen đã được áp dụng lâu dài để điều trị tình trạng béo phì. Các nghiên cứu thực hành trên mô hình chuột được nuôi với chế độ ăn giàu chất béo đã khảo sát tác dụng của chiết xuất lá sen trên các enzyme tiêu hóa, quá trình chuyển hóa lipid và sản sinh nhiệt. Kết quả cho thấy chiết xuất ức chế sự hấp thu carbohydrate và lipid ở đường ruột thông qua ức chế hoạt tính của alpha-amylase và lipase; điều hòa quá trình chuyển hóa lipid trong tế bào mỡ; hạn chế sự gia tăng khối lượng cơ thể; và kích thích quá trình sinh nhiệt. Một số sản phẩm thảo dược kháng khuẩn chứa thành phần lá sen đã thể hiện khả năng ức chế tích tụ chất béo bằng cách điều chỉnh giảm biểu hiện của các yếu tố phiên mã chủ chốt trong con đường lipogenesis và các enzyme tham gia vào quá trình lưu trữ lipid trong tế bào mỡ.
- Một hướng tiếp cận quan trọng trong điều trị ung thư là ngăn chặn quá trình hình thành mạch máu mới. Các mô hình thực nghiệm in vitro đã chứng minh rằng chiết xuất lá sen có khả năng ức chế sự hình thành mạch và lan tỏa của tế bào ung thư vú thông qua điều chỉnh giảm biểu hiện của yếu tố tăng trưởng mô liên kết (CTGF) qua con đường tín hiệu PI3K/AKT/ERK.
An thần
- Trong một số công trình nghiên cứu, chiết xuất lá sen được cấp cho chuột bị suy giảm sức đề kháng do căng thẳng kéo dài, và kết quả cho thấy hoạt tính điều hòa căng thẳng tương đương với tác dụng của diazepam.
Chống viêm
- Tình trạng viêm mạn tính có thể phát sinh từ nhiễm trùng lâu năm, tiếp xúc kéo dài với các chất độc hại, chế độ dinh dưỡng không cân bằng, thói quen hút thuốc lá và thiếu hoạt động thể chất. Khi viêm kéo dài, các mô bị tổn thương dần dần, tạo điều kiện cho sự phát triển của các bệnh mạn tính như xơ cứng động mạch, bệnh tim mạch, ung thư và đái tháo đường. Các kết quả từ mô hình thực nghiệm ống nghiệm cho thấy chiết xuất lá sen có khả năng ức chế sự giải phóng các chất trung gian viêm, bao gồm yếu tố hoại tử khối u-α (TNF-α), interleukin 6 (IL-6), oxit nitric (NO) và prostaglandin E2 (PGE2). Một nghiên cứu ống nghiệm khác sử dụng tế bào chuột đã ghi nhận rằng cả chiết xuất hạt sen lẫn lá sen đều làm giảm mức độ biểu hiện của các gen tiền viêm.
Một số công dụng khác
- Nuciferin được chiết xuất từ lá sen thể hiện tác dụng làm giảm sự co thắt của cơ trơn. Ngoài ra, hoạt chất này còn sở hữu khả năng ức chế hệ thần kinh trung ương, giảm cảm giác đau, kháng ho, kháng hoạt tính serotonin và phong bế thụ thể adrenergic. Lá sen cũng thể hiện tác dụng bảo vệ đối với các rối loạn nhịp tim cảm ứng bởi calci clorid, giảm tỷ lệ tử vong ở chuột thí nghiệm và hạn chế tần suất rung thất. Cơ chế chống loạn nhịp của lá sen liên quan đến sự gia tăng ngưỡng kích thích tâm trương và kéo dài giai đoạn trơ của tâm nhĩ cũng như tâm thất.
Liều dùng và cách dùng Sen (Lá)
- Liều lượng lá tươi dao động từ 40 – 80g, trong khi lá khô được sử dụng ở mức 4 – 12g tùy theo tình trạng bệnh. Dược liệu có thể được chế biến dưới dạng nước sắc truyền thống; ngoài ra, lá sen còn có thể được sao tồn tính để tạo thành Hà diệp thán phục vụ mục đích điều trị cụ thể.
Bài thuốc kinh nghiệm
Chữa trúng thử nhiệt gây đau đầu, đau răng, miệng khô khát, tiểu tiện ít và đỏ
- Lá sen 40g, Lô căn tươi 40g, hoa Đậu ván trắng 8g, sắc uống.
Chữa trúng thử vừa có nôn ói vừa tiêu chảy
- 20g Lá sen tươi, giã nát, thêm nước sôi để nguội, vắt lấy nước uống.
Chảy máu (đại tiện ra máu, chảy máu chân răng, xuất huyết dưới da)
- Lá sen tươi 80g, Trắc bá diệp 16g, Ngải diệp sao đen 12g, Sinh địa 40g, sắc uống.
Chữa máu hôi không hết sau khi đẻ
- Lá sen sao thơm, tán nhỏ, uống với nước hoặc đồng tiện. Hoặc Lá sen sắc uống ngày 20 – 30g.
Chữa sốt xuất huyết
- Lá sen, Ngó sen (hoặc Cỏ nhọ nồi), Rau má, mỗi vị 30g, bông Mã đề 20g. Nếu có xuất huyết, tăng thêm cuống, lá, ngó sen lên 40 – 50g. Sắc uống ngày một thang.
Chữa xuất huyết não và các biến chứng kèm theo ở bệnh nhân tăng huyết áp
- Lá sen, Cam thảo, mỗi vị 15,5g, Đỗ trọng 12,5g. Sinh địa, Mạch môn, Tang ký sinh, Bạch thược, mỗi vị 10g. Sắc uống ngày một thang.
Lưu ý khi dùng Sen (Lá)
- Tuyệt đối tránh sử dụng nếu có tiền sử dị ứng với bất kỳ thành phần nào của dương liệu Lá sen.
- Trong các ứng dụng cầm máu, dược liệu cần được sao cháy trước khi sử dụng để tăng hiệu quả ức chế chảy máu.
- Lưu trữ dược liệu tại nơi khô thoáng, tránh độ ẩm cao để bảo vệ chất lượng và tính hiệu quả của sản phẩm.
Nguồn tham khảo
Đỗ Tất Lợi (2006), Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, tr. 783 – 786.
Phạm Thiệp, Lê Văn Thuần (2000), Cây thuốc Bài thuốc và Biệt dược, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, tr. 259.
Đỗ Huy Bích, Đặng Quang Chung (2002), Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam tập II, Nhà xuất bản Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội, tr. 721 – 726.
D. Tungmunnithum, D. Pinthong, C. Hano (2018) "Flavonoids from Nelumbo nucifera Gaertn., a Medicinal Plant: Uses in Traditional Medicine, Phytochemistry and Pharmacological Activities". Medicines (Basel), 5 (4).
A. R. Kim, S. M. Jeong, et al. (2013) "Lotus leaf alleviates hyperglycemia and dyslipidemia in animal model of diabetes mellitus". Nutr Res Pract, 7 (3), 166-71.
K. R. Paudel, N. Panth (2015) "Phytochemical Profile and Biological Activity of Nelumbo nucifera". Evid Based Complement Alternat Med, 2015, 789124.

