12
Tần bì là cây gỗ có chiều cao biến đổi, với công dụng hỗ trợ kháng viêm và điều trị các tình trạng da dị ứng, mày đay, viêm da. Bộ phận sử dụng gồm vỏ thân cây và lá, chứa các thành phần hóa học như cerylmontanat, esculetin, fraxin. Liều dùng và cách dùng tùy thuộc vào tình trạng bệnh, thường là 9-15g dưới hình thức sắc nước để uống.
Tìm hiểu chung về Tần bì
Tên gọi, danh pháp
- Tần bì còn gọi là tần bì tàu hay tu chanh, có danh pháp khoa học là Fraxinus chinensis Roxb, thuộc họ Nhài (Oleaceae).
Đặc điểm tự nhiên
- Tần bì là cây gỗ với chiều cao biến đổi từ cây nhỏ đến cây lớn, thường đạt 5 – 8 m, nhưng trong điều kiện thuận lợi có thể phát triển tới 15 – 20 m. Lá được sắp xếp so le, có cấu trúc kép lông chim lẻ, bao gồm 3 – 7 lá chét riêng lẻ có hình trứng, tại gốc có dạng mác, đỉnh hơi nhọn, mép lá có gợn răng ở phần dưới chiếm 1/3 độ dài. Hoa tập hợp thành cụm chùm dạng hẹp nằm ở vị trí nách lá; hoa là đơn tính, mọc cùng cây hoặc khác cây; đối với hoa đực, đài có hình phễu với 4 răng rất ngắn, không có cánh hoa, nhị có 2 bao phấn tròn; hoa cái có hình ống với 4 – 5 răng tam giác, cũng không có cánh hoa, bầu noãn hình bầu dục với 2 đầu nhụy. Quả mang cánh, hạt có hình thoi nhẹ. Chu kỳ sinh sản: thời kỳ ra hoa từ tháng 3 – 5, thời kỳ kết quả từ tháng 7 – 8.
Phân bố, thu hái, chế biến
- Chi Fraxinus L. được ghi nhận có mặt ở Việt Nam. Loài tần bì được đề cập ở đây có nguồn gốc từ vùng khí hậu ôn đới ẩm ướt hoặc cận nhiệt đới của Đông Á, phân bố tự nhiên chủ yếu ở Trung Quốc và Nhật Bản. Trên lãnh thổ Việt Nam, loài tần bì núi lửa (một biến thể) xuất hiện rải rác tại nhiều khu vực núi đồi, được ghi nhận ở các tỉnh trước đây là Hà Tây (Ba Vì), Hòa Bình (Mai Châu), Hà Nam (Kiện Khê), cũng như ở Kon Tum và Lâm Đồng (Đà Lạt).
- Tần bì là loài cây có nhu cầu ánh sáng thay đổi theo giai đoạn phát triển: khi còn non thích sống dưới bóng, nhưng khi trưởng thành ưa ánh sáng trực tiếp. Cây có xu hướng ưa thích đất cát có độ ẩm cao, vì vậy thường được tìm thấy ở những vị trí gần khe suối (đặc biệt là phía thượng nguồn) hoặc ở những khu vực rừng thứ sinh và cửa rừng.
Bộ phận sử dụng
- Các bộ phận dùng làm dược liệu của tần bì gồm vỏ thân cây và lá.
Thành phần hóa học
- Theo các nhà khoa học người Trung Quốc, (H2) Thành phần hóa học chính của tần bì bao gồm cerylmontanat, ceryllignocerat, melissyl alcohol và cerylalcohol, esculetin, fraxin scopoletin, esculin fraxetin, stylosin, 8 – 0 – [rhamnosyl – rhamnosyl – glucosyl – fraxetin, neooleuropein, eleuropein, cichoriin, Isoligustitrosid, frachinosid, ligustrosid formosana và fraxiformosid.
- Theo tài liệu của Phạm Hoàng Hộ (Cây có vị thuốc ở Việt Nam trang 486), ở Việt Nam còn ghi nhận một loài tần bì lá có mũi (F.rhynchophylus Hance) chứa các hoạt chất eseulin, coumarin esculetin, raxitin và fraxin.
Công dụng của Tần bì
Theo y học cổ truyền
- Tần bì được ghi nhận có vị chát đắng, tính mát, với các công năng lợi thấp, thu liễm và tiêu viêm. Riêng về vỏ thân, theo tài liệu "Tứ Xuyên Trung được chí" ghi chép: tính ấm, vị cay, có khả năng trừ sốt rét, điều kinh và giải độc. Về phần lá tần bì, theo sách "Quý Châu thảo dược": tính mát, vị cay, sở hữu công năng hoạt huyết điều kinh, chỉ huyết và sinh cơ.
Theo y học hiện đại
- Tác dụng chống oxy hoá và bảo vệ chống lão hoá: Cao chiết từ vỏ cây tần bì thể hiện khả năng dọn gốc DPPH với giá trị IC50 là 50 microgram/ml, trong đó esculetin là hợp chất chứa hoạt tính dọn gốc tự do mạnh nhất. Hoạt tính loại bỏ gốc tự do của esculetin cũng được xác minh có hiệu lực cao trong nguyên bào sợi da người bị tác động của tia tử ngoại. Trên cơ sở các kết quả nghiên cứu này, các nhà khoa học cho rằng chiết xuất từ vỏ cây tần bì cùng với esculin, một thành phần chính của chiết xuất đó, có tiềm năng ứng dụng trong công thức mỹ phẩm nhằm hạn chế sự tiến triển của quá trình lão hóa da.
Liều dùng và cách dùng Tần bì
- Vỏ cây tần bì được vận dụng trong điều trị thấp nhiệt sinh lý, bạch đới, va chảy, viêm gan hoàng đản, viêm kết mạc, loét giác mạc và bệnh mắt bột. Liều lượng sử dụng hàng ngày là 9 – 15 g dưới hình thức sắc nước để uống. Khi dùng ngoài, lấy lượng thích hợp áp dụng.
- Lá tần bì được chỉ định trị các tình trạng da dị ứng, mày đay, viêm da, nhọt mủ và vết thương chém chặt. Liều dùng mỗi ngày 3 đến 5 g dưới dạng sắc nước uống. Phương pháp dùng ngoài là lấy lá tươi rửa sạch, giã nát rồi thoa lên vết thương.
- Hoa tần bì được ứng dụng trị ho, hen suyễn với liều hàng ngày 6 đến 15 g dưới dạng sắc uống.
- Quả tần bì được đốt thành than, sau đó ngâm vào nước nóng, lấy dịch nước uống để trị đau dạ dày. Ngoài ra, chất sáp trắng sinh ra từ côn trùng ký sinh trên cây tần bì cũng được khai thác làm dược liệu.
Bài thuốc kinh nghiệm
- Bài thuốc trị thấp nhiệt sinh lý, phụ nữ rong kinh, bạch đối: Vỏ rễ cây thanh thất (Ailanthus triphysa Alston) 12 g, vỏ thân tần bì 16 g, sắc lấy nước uống, ngày dùng 1 thang.
- Bài thuốc trị hỏa bốc, mắt đỏ sưng đau: Hoàng liên ô rô, vỏ cây tần bì, mỗi vị 12 g, sắc uống ngày 1 thang.
Lưu ý khi dùng Tần bì
- Tần bì là loài cây phân bố rộng rãi trong tự nhiên tại nhiều địa phương. Mặc dù có nguồn gốc tự nhiên, nhưng dược liệu này vẫn sở hữu những chỉ định, chống chỉ định cụ thể và có khả năng gây ra tác dụng phụ nhất định. Các bạn độc giả và gia đình không nên tự hành động sử dụng hoặc áp dụng theo những (H2) Bài thuốc kinh nghiệm mà chưa được chuyên gia tư vấn. Hãy liên hệ với bác sĩ chuyên khoa để được đánh giá toàn diện tình trạng sức khỏe hiện tại và nhận được hướng dẫn phù hợp.
Nguồn tham khảo
Tra cứu dược liệu tần bì: https://tracuuduoclieu.vn/tan-bi.html.
Bài viết này có hữu ích không?
Có0Không0

