13
Quả kha tử là vị thuốc hỗ trợ trị ho, viêm họng hiệu quả. Với thành phần hóa học phong phú, bao gồm tanin, axit elagic, axit galic và axit luteolic, kha tử phát huy tác dụng liễm phế ức chỉ khái, làm sáp tràng và dừng tả. Công dụng của kha tử bao gồm điều trị tiêu chảy lỏng kéo dài, lỵ kinh niên, trĩ, lòi dom, xích bạch đới, cải thiện ho mất tiếng, di tinh và kiểm soát mồ hôi tự ra vào ban đêm.
Tìm hiểu chung về Kha tử
Tên gọi, danh pháp
- Tên Việt: Kha tử (Quả).
- Tên gọi khác: Cây chiêu liêu; Hạt chiêu liêu; Kha lê; Kha lê lặc.
- Danh pháp khoa học: Terminalia chebula.
Đặc điểm tự nhiên
- Chiêu liêu là loài cây gỗ cao tầm 15 đến 20 m, có vỏ cây màu đen nhạt với các nét nứt dọc theo thân. Cuống lá rất ngắn, phần gốc cuống hơi tròn và nhỏ dần về phía lá, đầu lá nhọn, hình dáng trứng; tại gốc cuống có hai tuyến nhỏ nổi bật giống như đặc điểm nhận dạng của loài này, lá mọc đối xứng. Kích thước lá dao động từ 15 đến 20 cm chiều dài và 7 đến 15 cm chiều rộng, lá có độ cứng tương đối, cả hai mặt được phủ một lớp lông mềm, riêng mặt lưng lá thì trơn nhẵn hơn.
- Hoa của chiêu liêu nhỏ, sắc trắng, có lớp phủ lông vàng nhạt, mang tính lưỡng tính, tỏa mùi thơm dễ chịu, thường nở ở đỉnh cành hoặc mọc xen kẽ giữa các lá. Quả có hình dáng trứng thon, dài khoảng 3 cm, rộng 22 đến 25 mm, hai đầu tù, không có cánh. Vỏ quả mang sắc nâu vàng nhạt, có 5 cạnh dọc rõ rệt, cứng khô, bên trong chứa thịt quả đen nhạt. Hạt bên trong quả khá cứng, hình 5 cạnh, dày khoảng 10 đến 15 mm, chứa lá mầm cuốn và một hạt.
- Ngoài ra còn một biến thể chiêu liêu xanh (Terminalia citrina Roxb. hay Myrobalanus citrim Gaertn.) có lá dài hơn, mặt lá trơn từ lúc còn non, quả mảnh hơn và nhỏ hơn, nhân mỏng và hạt hẹp hơn so với chiêu liêu thường. Chiêu liêu xanh được ghi nhận mọc ở vùng Biên Hòa.
Phân bố, thu hái, chế biến
- Cây kha tử phân bố tự nhiên chủ yếu ở miền Nam Việt Nam, cùng với Lào, Ấn Độ, Miến Điện, Campuchia (còn gọi là Sramar) và Thái Lan. Ở Trung Quốc, dược liệu này ban đầu được nhập khẩu từ Ấn Độ, nhưng sau này đã có thể trồng được ở các tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây và Vân Nam.
- Quả chín vào khoảng tháng 9, 10, 11; cần chọn những quả đã trưởng thành hoàn toàn, có vỏ ngoài màu vàng ngà, thịt chắc chắn là tiêu chí tốt nhất để thu hái, sau đó phơi nắng cho khô. Cần tránh hái những quả còn non hoặc bị lép. Theo quy trình của Viện Đông y Việt Nam, kha tử cần được rửa sạch để loại bỏ bụi bẩn, để khô hoàn toàn, tiếp theo là sao sơ, giã dập, loại bỏ hạt trước khi sử dụng để bốc nước thuốc thang.
Bộ phận sử dụng
- Quả.
Thành phần hóa học
- Kha tử chứa hàm lượng tanin cao từ 20 đến 40%, bao gồm các thành phần chính như axit elagic, axit galic và axit luteolic. Trong những trường hợp quả khô hoàn toàn, tỷ lệ tanin có thể đạt tới 51,3%.
- Bên cạnh đó, dược liệu còn chứa axit chebulinic với công thức cấu trúc C41H34O27 ở nồng độ 3 đến 4%. Khi axit chebulinic bị thủy phân, nó tạo ra một phân tử glucoza, ba phân tử axit galic và một phân tử axit có công thức phân tử C14H12O11.
- Trong nhân quả còn tích lũy 36,7% dầu có màu vàng nhạt, mùi thơm, tính chất nửa khô.
Công dụng của Kha tử
Theo y học cổ truyền
- Trong y học cổ truyền, Kha tử được ghi nhận có vị cay đắng, tính ôn, tính chất hơi se, quy vào hai kinh Phế và Đại tràng. Dược liệu này phát huy tác dụng liễm phế ức chỉ khái, làm sáp tràng và dừng tả hiệu quả.
- Kha tử được các lương y sử dụng chuyên biệt trong điều trị tiêu chảy lỏng kéo dài, chữa lỵ kinh niên, trĩ, lòi dom, xích bạch đới, cải thiện ho mất tiếng, di tinh, và kiểm soát mồ hôi tự ra vào ban đêm. Ngoài ứng dụng y học, dược liệu còn được khai thác trong ngành công nghiệp thuộc da.
Theo y học hiện đại
- Các công trình nghiên cứu lâm sàng đương đại đã khẳng định hiệu quả của Kha tử trong xử trí viêm họng và khàn tiếng. Đối với khả năng ức chỉ ho, hoạt chất Polysaccharid tồn tại trong Kha tử thể hiện tác dụng giảm ho vượt trội, với tiềm năng dược lý vượt hơn so với codein. Theo dõi lâm sàng cho thấy sau khi bệnh nhân uống chiết xuất Kha tử ở các thời điểm 30, 60, 120, 300 phút, phản xạ ho đã giảm đáng kể từ phút thứ 30 trở đi.
- Kha tử chứa hoạt chất Alloyl có hoạt tính kháng vi rút được Viện Nghiên cứu nông nghiệp và sinh học, Viện thống kê Ấn Độ ghi nhận năm 2013. Hoạt chất này đóng vai trò quan trọng trong việc ức chế các chủng vi rút, từ đó giúp tăng cường hệ miễn dịch của con người.
- Các nhà khoa học Slovakia và Ấn Độ thông qua nghiên cứu trên mô hình động vật đã phát hiện hoạt tính kháng khuẩn mạnh mẽ trong Kha tử liên quan đến hàm lượng tanin phong phú (chiếm 24-64%) bao gồm các thành phần axit galic, egalic, luteolic, chebulinic. Sự hiện diện của những hoạt chất đặc biệt này đã biến Kha tử thành một chất kháng sinh tự nhiên với khả năng diệt khuẩn đáng kể.
- Dựa trên nền tảng các hoạt tính dược lý đã được xác minh, hiện nay các chế phẩm từ Kha tử được phát triển và đưa vào thị trường, thể hiện tác dụng ức chế in vitro đối với nhiều chủng vi khuẩn gồm Pseudomonas aeruginosa, Salmonella typhi, trực khuẩn mủ xanh, trực khuẩn bạch hầu, tụ cầu vàng và liên cầu khuẩn tán huyết.
Liều dùng và cách dùng Kha tử
Liều dùng và cách dùng
- Để trị tiêu chảy lỏng kéo dài: Mỗi ngày uống 3 – 6g dưới hình thức thuốc sắc hoặc thuốc viên.
- Để cầm tiêu chảy: Liều lượng sử dụng là 3 – 6g.
Bài thuốc kinh nghiệm
Bài thuốc kinh nghiệm
Chữa xích bạch lỵ
- Chuẩn bị 12 quả Kha tử, trong đó 6 quả để tươi sống, 6 quả nướng sau đó loại bỏ hạt, sao vàng và tán mịn. Khi lỵ ra máu, dùng nước sắc cam thảo để điều hòa; khi lỵ chảy máu mũi, dùng nước sắc cam thảo trích để điều chế.
Chữa ho lâu ngày
- Lấy khoảng 4g Kha tử kết hợp 4g Đảng sâm, sắc chung với khoảng 400ml nước cho đến khi dung dịch cô đặc còn lại 200ml, chia thành ba lần uống trong ngày.
Lưu ý khi dùng Kha tử
- Khi sử dụng Kha tử, cần lưu ý rằng liều lượng thấp có thể phát huy tác dụng cầm tiêu chảy, tuy nhiên nếu tăng liều lượng lên mức cao lại có thể gây ra tác dụng ngược là kích thích tiêu chảy.
Nguồn tham khảo
Tracuuduoclieu: https://tracuuduoclieu.vn/kha-tu.html
Thầy thuốc Việt Nam: https://thaythuocvietnam.vn/kha-tu-vi-thuoc-dong-y-quen-thuoc/
Bài viết này có hữu ích không?
Có0Không0

