16
Thạch tín là một dược liệu có độc tính cao, với thành phần chính là As2O3, thường được sử dụng trong y học cổ truyền để tiêu đờm, trị sốt rét và bổ huyết. Tuy nhiên, do độc tính cao, thạch tín đòi hỏi sử dụng cẩn thận và chỉ nên sử dụng dưới sự hướng dẫn của chuyên gia y tế. Bài viết sẽ cung cấp thông tin chi tiết về đặc điểm, công dụng và lưu ý khi sử dụng thạch tín.
Tìm hiểu chung về Thạch tín
Tên gọi, danh pháp
- Tên Việt: Thạch tín.
- Tên gọi khác: Tín thạch; Nhân ngôn; Phê thạch; Hồng phê; Bạch phê.
- Danh pháp khoa học: Arsenicum.
Đặc điểm tự nhiên
- Thạch tín ở dạng tự nhiên (thân hoa – Arsenolite) có thành phần chủ yếu là As2O3, thường đi kèm với các chất lẫn như sắt (Fe) và sulfua (S), do đó thường thể hiện màu hồng đặc trưng. Nguồn thạch tín tự nhiên vốn rất khan hiếm trong thiên nhiên.
- Theo phân loại dựa trên cấu trúc hóa học, thạch tín được chia thành 2 nhóm chính:
- Thạch tín hữu cơ: Đây là những hợp chất hữu cơ chứa asen, thường xuất hiện trong các mô của động vật và thực vật. Loại này có độc tính tương đối thấp và gây ảnh hưởng hạn chế đến cơ thể người.
- Thạch tín vô cơ: Bao gồm asen ở dạng kim loại nguyên chất hoặc các hợp chất asen mà không liên kết với nguyên tử carbon. Loại này thường tồn tại dưới dạng hòa tan trong nước hoặc trong môi trường đất đá, sở hữu độc tính cực cao với nguy cơ gây ung thư đáng kể. Thạch tín vô cơ lại được phân chia thành hai dạng chính là arsenate và arsenit.
Phân bố, thu hái, chế biến
- Thạch tín có thể tìm kiếm từ thiên nhiên hoặc cần phải trải qua những công đoạn điều chế để có được sản phẩm cuối cùng:
- Thạch tín tự nhiên (thân hoa) với thành phần As2O3 chính yếu. Khi thăng hoa thạch tín sẽ thu được phê sương (dạng thạch tín tinh khiết).
- Độc sa (Arsenopyrite) là một hợp chất chứa sắt, asen và sulfua: AsFeS.
- Hùng hoàng (Realgar) có thành phần chủ yếu là asen sulfua.
- Cần tiến hành chế biến độc sa và hùng hoàng để chiết xuất được thạch tín.
- Hồng tín thạch (hồng phê – Arsenicum rubrum).
- Bạch tín thạch (bạch phê – Arsenicum album), loại này hiếm hơn so với hồng phê.
Bộ phận sử dụng
- Thạch tín đã qua quá trình tinh luyện.
Thành phần hóa học
- Thân hoa có thành phần chủ yếu là As2O3, có thể kèm theo các tạp chất như sắt (Fe) và sulfua (S).
- Độc sa chứa khoảng 34,3% sắt; 46% asen; 19,7% sulfua, cùng với các nguyên tố như coban, niken, stibi, và vàng (chỉ một số mẫu nhất định mới có vàng).
- Hùng hoàng có chứa lượng lớn asen (khoảng 70,1%) và sulfua (29%). Một số tài liệu ghi nhận công thức hóa học của hùng hoàng là As2S3, trong khi các tài liệu khác lại ghi As2S2.
- Phê sương chứa hoàn toàn As2O3 ở dạng tinh khiết.
Công dụng của Thạch tín
Theo y học cổ truyền
- Thạch tín sở hữu vị cay và chua, tính nóng, độc tính rất cao. Trong thực hành lâm sàng truyền thống, dược liệu này được ghi nhận có khả năng tiêu đờm, trị sốt rét, bổ huyết, điều trị vàng da, loại bỏ các mô thịt hoại tử và hoại tử. Theo các tài liệu y học cổ đại từ thế kỷ IV TCN, các bác sĩ Hy Lạp cổ đại đã áp dụng thạch tín vào xử trị các bệnh lở loét và khoáng chất này cũng được sử dụng như tác nhân làm rụng lông.
Theo y học hiện đại
- Vào khoảng năm 1786, nhà khoa học người Anh Thomas Fowler đã đưa thạch tín vào ứng dụng lâm sàng để hỗ trợ điều trị một số bệnh lý như hen suyễn, chàm, thiếu máu, vảy nến và các tình trạng tương tự. Tuy nhiên, phương pháp điều trị này sau đó đã bị dừng lại do các quan sát lâm sàng phát hiện rằng thạch tín gây ức chế tạo máu (giảm số lượng bạch cầu) và làm tăng đáng kể nguy cơ phát triển ung thư cũng như bạch cầu tủy xương mạn tính. Năm 1910, bác sĩ người Đức Paul Ehrlich đã phát triển một dạng thạch tín hữu cơ có khả năng điều trị giang mai hiệu quả, trở thành một trong những tác nhân trị bệnh chính cho đến khi penicillin được khám phá ra. Hiện nay, ở một số khu vực nhất định, các nhân viên y tế vẫn tiếp tục sử dụng biến thể thạch tín hữu cơ này để điều trị bệnh trypanosoma Châu Phi.
Bài thuốc kinh nghiệm
Trị hen suyễn mạn tính:
- Kết hợp 2g hồng phê với 20g Đạm đậu xị, sau đó vo trộn thành các hạt nhỏ tương đương kích thước hạt mè. Dùng 2 – 3 viên mỗi ngày.
- Tại một số địa phương, cách làm khác là đặt thạch tín vào bên trong quả dừa tươi rồi nấu cho chín, tiếp theo lấy than dừa vo kết hợp thành viên uống dùng.
Lưu ý khi dùng Thạch tín
- Tuyệt đối không tự ý sử dụng thạch tín mà phải tuân thủ chỉ định điều trị từ các chuyên gia y học có năng lực vì đây là dược liệu có độc tính cực cao và đòi hỏi sử dụng cực kỳ cẩn thận.
- Nếu xuất hiện các dấu hiệu nhiễm độc thạch tín cấp tính (đau bụng dữ dội, buồn nôn, nôn, tiêu chảy, phân lẫn máu và các hạt bất thường, khó nuốt, khô miệng, mất nước, tiểu nước tiểu, huyết áp và thân nhiệt giảm, chuột rút, co giật), cần đưa người bệnh tới cơ sở y tế càng nhanh càng tốt.
- Cần lưu ý các biểu hiện nhiễm độc thạch tín kéo dài như sau: Sừng hóa từng chấm nhỏ tại lòng bàn tay hoặc bàn chân, các vùng da thô ráp trên bề mặt, các chấm nhạt màu xen kẽ trong các vùng da tăng sắc tố sạm màu, tổn thương các mô niêm mạc (viêm lợi, viêm họng), viêm dây thần kinh, rối loạn cảm giác, giảm số bạch cầu. Khi phát hiện các biểu hiện này, nên tiếp xúc với bác sĩ sớm nhất có thể để bắt đầu điều trị kịp thời.
Nguồn tham khảo
Những Cây thuốc và Vị thuốc Việt Nam (Đỗ Tất Lợi).
https://tracuuduoclieu.vn/thach-tin-vt.html
https://www.thuocdantoc.org/duoc-lieu/thach-tin
Bài viết này có hữu ích không?
Có0Không0

