Sâm Triều Tiên là dược liệu quý, có tác dụng an thần, sáng mắt, giúp bổ nguyên khí toàn thân. Với thành phần hóa học đa dạng, Sâm Triều Tiên được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực, từ điều trị bệnh tim mạch, tiểu đường, thần kinh suy nhược đến tăng cường trí lực và thể lực. Tuy nhiên, cần lưu ý khi sử dụng Sâm Triều Tiên, đặc biệt là đối với những người có bệnh lý đặc biệt hoặc tương kỵ với các dược liệu khác.
Tìm hiểu chung về Sâm triều tiên
Tên gọi, danh pháp
- Tên Việt: Sâm Triều Tiên.
- Tên gọi khác: Sâm cao ly, Sâm Hàn Quốc, Nhân sâm, Viên sâm.
- Danh pháp khoa học: Panax ginseng C. A. Mey, thuộc họ Araliaceae.
Đặc điểm tự nhiên
- Sâm Triều Tiên là loài thảo dược sống lâu năm, chiều cao trưởng thành khoảng 0,6 m, với hệ rễ phát triển thành khối củ to. Lá mọc thành vòng, có cấu trúc lá kép với nhiều lá chét sắp xếp theo hình chân vịt, gắn trên cuống dài. Sâm Triều Tiên ở giai đoạn một năm sau khi gieo (tức sau 2 năm tính từ lúc mầm) chỉ có 1 lá với 3 lá chét; khi được 2 năm vẫn chỉ mang 1 lá với 5 lá chét; ở tuổi 3 năm xuất hiện 2 lá kép; ở tuổi 4 năm có 3 lá kép; từ tuổi 5 năm trở lên mang 4 – 5 lá kép, tất cả đều có 5 lá chét (trong một số trường hợp có thể có 6 lá chét), mép lá chét có răng cưa sâu. Từ năm thứ 3 trở đi, cây bắt đầu ra hoa và kết quả. Hoa xuất hiện vào mùa hạ, tập trung ở đầu cành thành cụm hoa học có dạng tán, màu xanh nhạt, mỗi hoa có 5 cánh và 5 nhị, bầu hạ 2 núm. Quả là dạng mọng, kích thước tương đương hạt đậu xanh, hơi dẹt, khi chín có màu đỏ đặc trưng, bên trong chứa 2 hạt. Hạt ở năm thứ 3 chưa đạt chất lượng tốt, nên người trồng thường loại bỏ hoa quả lúc này và chờ cây được 4 – 5 năm tuổi mới để quả và thu lấy hạt làm giống. Thời gian ra hoa: tháng 3 – 5. Thời gian quả chín: tháng 6 – 8.
Phân bố, thu hái, chế biến
- Chi Panax L. bao gồm khoảng hơn 10 loài phân bố trên toàn thế giới, chủ yếu ở vùng ôn đới Bắc bán cầu. Sâm Triều Tiên nổi bật là một trong những dược liệu quý giá được ghi nhận trong nền y học dân tộc Phương Đông từ thời kỳ thượng cổ cho đến hiện nay. Dược liệu này có lịch sử trồng lâu đời và vùng phân bố tự nhiên chủ yếu tập trung ở các khu vực núi thuộc Viễn Đông Liên bang Nga, phía bắc CHDCND Triều Tiên và Trung Quốc. Trong những năm gần đây, cây đã được đưa vào nhập trồng ở Mỹ, Nhật Bản và Việt Nam, tuy nhiên Sâm Triều Tiên vẫn chưa đạt được thành công trong trồng trọt tại Việt Nam dù đã qua nhiều đợt thử nghiệm.
- Sâm Triều Tiên là loài cây của vùng ôn đới, có đặc tính ưa ẩm và khả năng chịu đựng tốt trong điều kiện nhiệt độ thấp, có thể tồn tại qua 3 – 4 tháng băng tuyết mùa đông. Tuy vậy, lượng mưa tại những vùng có Sâm Triều Tiên mọc tự nhiên cũng như ở các vùng trồng thường thấp hơn đáng kể (chỉ bằng khoảng 50%) so với điều kiện vùng nhiệt đới. Sâm Triều Tiên có tính ưa bóng đặc biệt, thường mọc dưới tán rừng kín và lẫn trong tầng cỏ quyết. Do đó, người trồng phải tạo điều kiện vườn có mái che từ 80% trở lên. Toàn bộ phần mô cây phía trên mặt đất sẽ tàn lụi trong mùa đông để thích ứng với giai đoạn nhiệt độ thấp. Ở đầu rễ củ xuất hiện chồi từ giữa mùa hè, tồn tại trong trạng thái "ngủ" qua tháng 9 – 10 và đến đầu mùa xuân năm tiếp theo, chồi mới mọc lên khỏi mặt đất. Cây Sâm Triều Tiên khi trưởng thành (khoảng 3 – 4 tuổi) ra hoa quả hàng năm. Quả chín rơi xuống sẽ trải qua mùa đông và nẩy mầm vào mùa xuân năm sau. Hạt ở trạng thái khô thường có khả năng nẩy mầm kém, nên người trồng thường gieo hạt khi còn tươi. Cây được nhân giống bằng hạt, thời kỳ gieo thường vào cuối tháng 10 – 11.
- Sâm Triều Tiên có thể thu hoạch sau 6 năm, thường được khai thác vào mùa thu (tháng 9 – 10) bằng cách đào lấy rễ củ, cần chú ý tránh làm tổn thương rễ, không phơi gió hay phơi nắng trực tiếp để bảo tồn độ ẩm. Sau đó phân loại: những rễ củ tốt được chế thành hồng sâm, những rễ loại kém hơn được chế thành bạch sâm.
Chế biến Sâm Triều Tiên (hồng sâm, bạch sâm)
Hồng sâm
- Lấy rễ củ ít nhất 37 g, dùng bàn chải nhỏ chải sạch đất trên từng rễ, rửa dưới nước, giữ nguyên cả hệ rễ nhỏ để được rễ sâm màu trắng ngà. Đem vào nồi hấp ở áp lực hơi nước cao 2 atm trong khoảng 1 giờ 20 phút – 1 giờ 30 phút, nhiệt độ hấp 80 – 90°C. Tiếp theo sấy khô ở 60 – 70°C (6 – 7 giờ) hoặc ở 50 – 60°C (8 – 10 giờ), nên sấy nhanh hết sức có thể.
- Tu sâm là những rễ con nhỏ của rễ củ được tách bằng tay sau khi sấy khô, rễ củ còn lại thường được chỉnh sửa để có dáng giống hình người, nếu không giống thì sửa lại. Sau đó phơi nắng từ 7 – 15 ngày (tùy theo khối lượng rễ to hay nhỏ). Phân chia hồng sâm thành 2 cấp: Cấp trời (rễ hình giống người, dáng đều, màu sắc đẹp), những rễ còn lại thuộc cấp đất. Cuối cùng đóng gói từng cân ta (600 g) một. Loại 15 rễ nặng 600 g được coi là loại tốt nhất, loại 60 rễ nặng 600 g là loại kém nhất.
Bạch sâm
- Những rễ dùng chế bạch sâm là những rễ không đạt tiêu chuẩn để chế hồng sâm. Cắt bỏ rễ con, cạo sạch lớp vỏ mỏng bằng dao tre, phơi nắng cho hơi khô, sau đó chỉnh sửa rễ cho giống hình người rồi tiếp tục phơi nắng cho khô hoàn toàn. Tổng thời gian phơi khoảng 7 – 15 ngày. Đóng gói như hồng sâm. Thường sử dụng hòm gỗ cho hồng sâm và hòm giấy cho bạch sâm.
- Gần đây, ở nhiều quốc gia, Sâm Triều Tiên đã được phát triển thông qua nuôi cấy mô để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về dược liệu này.
Các loại sâm khác ngoài hồng sâm và bạch sâm:
- Sinh sát sâm: Rễ sâm giữ nguyên vỏ, sau khi làm sạch đất cát và phơi khô.
- Đại lực sâm: Sau chế biến, đem rễ sâm nhúng vào nước sôi vài phút rồi lấy ra phơi khô.
- Tu sâm: Những rễ con của rễ sâm.
- Để tăng "tính ấm" của sâm, người ta chế thêm gừng (tỷ lệ Sâm Triều Tiên 1 kg, gừng tươi 0,1 kg). Gừng được rửa sạch, cạo lớp vỏ ngoài, giã nát vắt lấy nước cốt, tẩm vào phiến Sâm Triều Tiên, ủ 30 phút cho ngấm hết nước gừng, sao nhỏ lửa cho đến khô.
- Chè sâm: Dịch chiết từ sâm, bốc hơi, bào chế dạng bột hòa tan đựng trong túi giấy bạc.
Bộ phận sử dụng
- Rễ cây Sâm Triều Tiên, được thu hoạch vào mùa xuân và mùa thu.
- Theo kinh nghiệm dân gian, sâm mọc hoang được đánh giá có chất lượng tốt hơn sâm được trồng.
Thành phần hóa học
- Sâm Triều Tiên chứa nhóm saponin gồm các ginsenosides: Ginsenosides Ro, Re, Rh1, Rh2, Rg1, Rg2, Rg3, Ra1, Ra2,… với phổ tác dụng dược lý đa chiều bao gồm ức chế phản ứng viêm gan, khử độc tố, điều tiết hoạt động kết tập tiểu cầu, ngăn ngừa xơ cứng động mạch, hạ mức đường huyết, chống bệnh tiểu đường, giảm thiểu đau do rối loạn thần kinh não, tăng cường chức năng sinh lý, bảo vệ niêm mạc dạ dày khỏi loét.
- Các thành phần Rh2 và Rg3 thể hiện khả năng ức chế quá trình sinh sản của tế bào u, từ đó mở ra tiềm năng phòng chống bệnh ung thư. Các nhà khoa học đã ứng dụng công nghệ tiên tiến để phân lập và chế tạo thành công các dòng thuốc ngăn ngừa ung thư từ các hoạt chất Rh2, Rg3 của hồng sâm.
- Các hoạt chất Malonyl Rb1, Rb2, Rc, Rd đã được các nhà sản xuất mỹ phẩm ứng dụng rộng rãi để phát triển các sản phẩm kem hồng sâm nhờ vào tính chất chống quá trình lão hóa, duy trì tình trạng cơ thể ổn định và kéo dài giai đoạn tuổi trẻ.
- Ngoài các ginsenosides chính, sâm Triều Tiên còn tích tụ 17 loại acid béo (acid oleic, acid palmitic, acid stearic,…) mà trong đó có đầy đủ 8 loại acid béo thiết yếu mà cơ thể không thể tự tổng hợp, cùng với 7 hợp chất polyacetylen và 20 nguyên tố hóa học gồm Se, K, Fe, Mn, Co. Các thành phần bổ sung khác như glucid, tinh dầu cung cấp đầy đủ những chất dinh dưỡng vi lượng cần thiết cho các chức năng sinh lý của cơ thể.
Công dụng của Sâm triều tiên
Theo y học cổ truyền
- Về tính vị và quy kinh: Sâm Triều Tiên mang tính bình, vị cam khổ, tác dụng chủ yếu tập trung vào ba kinh Tỳ, Phế và Tâm. Dược liệu này phục mạch cố thoát hiệu quả, thực hiện chức năng đại bổ nguyên khí toàn thân, bổ tỳ ích phế, sinh tân dịch và an thần định tâm.
- Trong tài liệu "Bản kinh" của Trung Quốc ghi nhận thêm rằng Sâm Triều Tiên bổ năng năm tạng, an thần kinh, chỉ kinh quý, trừ tà khí xâm nhập, minh mục sáng sáng, khai tâm tích trí.
- Các tư liệu y học cổ đại thường ghi chép Sâm Triều Tiên bổ năm tạng (tâm, can, tỳ, phế, thận) định hồn phách, yên tinh thần, trừ tà khí, làm giảm cảm giác sợ hãi, sáng mắt, khi dùng lâu dài nhẹ mình, chữa các chứng đau tâm vị – đại tràng, nôn mửa và kéo dài tuổi thọ.
- Sâm Triều Tiên tăng cường trí lực và thể lực, được chỉ định khi cơ thể rơi vào trạng thái mệt mỏi, suy yếu, kiệt sức và trong giai đoạn phục hồi sau bệnh. Ngoài ra, dược điển nhiều quốc gia ghi nhận Sâm Triều Tiên ứng dụng trong điều trị bệnh tim mạch, tiểu đường, thần kinh suy nhược, dương ủy.
- Sâm Triều Tiên chủ trị: Tim đập hồi hộp, thở khó ho hen, gây tràn dịch tổn thương, đái đường, miệng khát, suy nhược cơ thể, lạnh cung, tỳ hư tiết tả, mất máu, dương ủy (theo y lý cổ truyền).
Theo y học hiện đại
Ứng dụng trong cấp cứu tim mạch
- Trong các trường hợp sốc tim nguy kịch cần can thiệp khẩn cấp, Sâm Triều Tiên được sử dụng với liều lượng lớn 9 – 20 g dạng sắc nước uống hoặc dạng dung dịch tiêm (0,57 g dược liệu/ml) với thể tích 2 – 4 ml tiêm tĩnh mạch hoặc tiêm cơ.
Ứng dụng trong điều trị bệnh tim mạch
- Đối với tình trạng cao huyết áp, xơ vữa động mạch vành, loạn dưỡng cơ tim, đau thắt ngực, Sâm Triều Tiên thể hiện khả năng làm giảm nhẹ các triệu chứng lâm sàng.
- Trong các trường hợp huyết áp không ổn định, Sâm Triều Tiên thể hiện tác dụng điều chỉnh hai chiều, liều thấp tăng huyết áp, liều cao lại hạ huyết áp.
Ứng dụng trong điều trị bệnh tiểu đường
- Sâm Triều Tiên cải thiện trạng thái sức khỏe toàn thân nhưng không can thiệp được khi đường huyết tăng cao vượt quá ngưỡng.
- Ở bệnh nhân tiểu đường thể nhẹ, Sâm Triều Tiên giảm được đường huyết và đường niệu, tác dụng kéo dài 2 tuần sau ngừng dùng.
- Ở bệnh nhân tiểu đường thể vừa, Sâm Triều Tiên không cho tác dụng hạ đường huyết rõ rệt nhưng cải thiện toàn thân như giảm hoặc mất cảm giác mệt mỏi, miệng khát.
- Có thể kết hợp Sâm Triều Tiên để giảm liều insulin ở một số bệnh nhân.
Ứng dụng trong điều trị thần kinh suy nhược
- Sâm Triều Tiên phát huy tác dụng kích thích hệ thần kinh, tăng cường hoạt động cơ thể, giảm mệt mỏi, ức chế các triệu chứng suy nhược thần kinh, đồng thời tăng cân và giảm đau đầu.
Ứng dụng trong điều trị dương ủy
- Trong hệ thống y học cổ truyền, Sâm Triều Tiên được phân loại thuộc nhóm thuốc cường tráng thân thể, bổ dưỡng nguyên khí cơ bản. Đối với dương ủy thể liệt dương và thể xuất tinh sớm, dược liệu này thể hiện hiệu quả, nhưng đối với dương ủy do nguyên nhân tâm thần thì không có tác dụng.
Ứng dụng trong điều trị suy thượng thận nguyên phát (Addison)
- Theo nghiên cứu của Vương Bản Tường (Trung Quốc) trên 18 bệnh nhân Addison, cho uống dịch chiết cồn từ thân lá Sâm Triều Tiên (20%) với liều 20 – 30 ml/ngày, tăng dần đến 150 – 300 ml/ngày trong 121 ngày, kết quả cho thấy bệnh nhân tăng cân, giảm lắng đọng sắc tố ở da, lực nắm bàn tay mạnh hơn, huyết áp được nâng lên, đường huyết hồi phục.
- Ở giai đoạn bù trừ, kết quả điều trị tốt với khả năng phục hồi lao động.
- Ở giai đoạn phát hiện muộn đã mất khả năng bù trừ, dùng kết hợp corticoid có thể giảm liều.
Ứng dụng trong điều trị giảm bạch cầu
- Saponin chiết từ thân, rễ và lá Sâm Triều Tiên dùng với liều 50 – 100 mg/lần, ngày uống 2 – 3 lần, điều trị 38 trường hợp giảm bạch cầu do hóa liệu, đạt kết quả 87%.
Ứng dụng trong điều trị viêm gan cấp
- Theo báo cáo của các tác giả Liên Xô, cao lỏng Sâm Triều Tiên có khả năng thúc đẩy chức năng gan hồi phục nhanh chóng và giảm nguy cơ bệnh chuyển thành mạn tính.
Liều dùng và cách dùng Sâm triều tiên
- Trong thực hành dân gian, sâm Triều Tiên được áp dụng theo các phương pháp sử dụng sau:
- Cắt thành những lát mỏng, đặt vào miệng để ngậm và nhai từng phần nhỏ, nuốt cả phần nước tiết ra và phần bã.
- Cắt thành lát mỏng rồi đưa vào chén sứ hoặc ấm, thêm một lượng nước vừa đủ và tiến hành đun cách nước (bain-marie), sau đó uống nước chiết xuất. Tiếp tục thêm nước vào phần bã còn lại và lặp lại quy trình đun cách nước để uống, cứ tiếp tục cho đến khi sâm mất hết hương vị và tác dụng.
- Liều lượng hàng ngày khuyến cáo: 2 – 6 g.
- Sâm Triều Tiên phát huy tác dụng định thần, bổ nguyên khí toàn thân, tăng cường trí tuệ, bổ huyết và sinh tân máu. Chỉ định điều trị bao gồm: tỳ hư dẫn tới tiết tả, phế hư gây ho suyễn, vị hư dẫn tới nôn mửa, các triệu chứng sợ hãi, tiêu khát, và những bệnh lý kéo dài do khí hư. Lưu ý không kết hợp dùng sâm Triều Tiên cùng ngù linh chi và lê lô.
- Đối với những tình huống thường quy (không phải trường hợp cấp cứu đặc biệt), liều lượng khuyến cáo hàng ngày là 2 – 4 g. Có thể sử dụng dưới các dạng bào chế khác nhau: nước sắc, rượu thuốc, lát cắt để ngậm, cao hoặc hoàn tán.
- Sâm Triều Tiên thường được phối hợp với các dược liệu khác trong các bài thuốc: cùng phụ tử để điều trị vong dương hư thoát, khó thở, chóng mặt và ra mồ hôi quá nhiều; cùng ngũ vị tử để bổ nguyên khí không đủ; cùng đương quy để chữa khí đoản mạch vi và mất máu bất ngờ với lượng lớn; cùng tỳ bà để điều trị ợ chua; cùng long cốt để chữa di tinh; cùng hoàng kỳ để điều trị ho, ho ra máu, âm hư triều nhiệt; cùng tam thất để chữa hãn huyết đục thoát, hư lao và chảy máu; cùng thạch cao để điều trị tiểu đường; cùng thục địa để chữa nhiệt bệnh, khí thương, tân quỵ.
Bài thuốc kinh nghiệm
Độc sâm thang (đơn vị dược liệu đơn lẻ chỉ gồm Sâm Triều Tiên) được ứng dụng trong điều trị các trường hợp suy kiệt nặng nề do mất máu lớn, kèm theo tình trạng suy nhược thần kinh
- Sâm Triều Tiên 40 g được đặt vào 400 ml nước, sắc cho đến khi dung dịch còn lại 200 ml, sau đó uống từng lượng nhỏ liên tục không giới hạn thời gian. Nên nằm yên tĩnh sau khi dùng thuốc.
Sâm phụ thang được dùng để xử trị những tình huống mồ hôi tiết nhiều, chi thể lạnh, mạch yếu kiệt
- Sâm Triều Tiên 40 g (hoặc giảm xuống 20 g), chế phụ tử 20 g (hoặc 10 g), sinh khương 3 nhát, táo đen 3 quả, thêm 600 ml nước, sắc cho đến khi còn lại 200 ml, chia nhiều lần dùng suốt ngày.
Dùng trong trường hợp da sắc nhợt nhạt, tì vị khí hư, chi thể mệt mỏi, triệu chứng nôn mửa, biếng ăn (Tứ quân tử thang)
- Sâm Triều Tiên 10 g, bạch truật 9 g, phục linh 9 g, cảm thảo (trích) 6 g. Tất cả các vị được tán thành bột mịn. Mỗi lần sử dụng 6 g sắc với 200 ml nước, còn lại 150 ml, uống bất kỳ lúc nào.
Điều trị bệnh tiểu đường (Ngọc hồ hoàn)
- Sâm Triều Tiên và rễ qua lâu được lấy theo tỷ lệ 2 lượng bằng nhau, nghiền thành bột mịn sau đó trộn với mật ong, tạo thành viên hoàn kích thước hạt đậu. Mỗi lần uống 20 hoàn kèm thang Mạch môn đông.
Xử trị hiện tượng nôn nước trong, ợ chua, chán ăn, đau tức vùng bụng ở phụ nữ có thai (Tiểu địa hoàng hoàn cục phương)
- Sâm Triều Tiên (loại bỏ cuống) và can khương được lấy theo tỷ lệ 2 lượng bằng nhau, nghiền thành bột, sau đó nhào bột bằng nước ép từ sinh địa tươi để tạo viên hoàn kích thước hạt đậu. Uống 30 – 50 hoàn/lần với cháo gạo mỏng trước bữa ăn chính.
Điều trị tình trạng sốt kèm sợ lạnh, nhiễm cảm phong hàn ngoại biểu, ho nhiều đờm nhầy, đau đầu và tắc mũi (Sâm tô ẩm)
- Sâm Triều Tiên, tiền hồ, bán hạ, tô diếp, cát căn, phục linh mỗi vị 22,5 g; trần bì, cát cánh, chỉ xác, cam thảo, mộc hương mỗi vị 15 g được tán nhỏ rồi trộn đều. Mỗi lần dùng 12 g với 150 ml nước, 7 lát gừng tươi và 1 quả táo. Sắc uống khi còn nóng.
Dùng trong trường hợp năm tạng không đủ, tâm khí không ổn định, hoảng hốt, dễ nóng nảy, mơ nhiều khi ngủ, có biểu hiện lầm lạc (Sâm triều tiên an thần hoàn)
- Sâm Triều Tiên, bạch phục linh mỗi vị 90 g; viên chí (bỏ tâm), xương bổ mỗi vị 60 g được nghiền thành bột rồi trộn với mật ong, tạo viên hoàn kích thước hạt đậu, bao ngoài bằng chu sa. Dùng 7 hoàn/lần, 3 lần/ngày, ăn kèm cơm nóng rồi nằm nghỉ.
Lưu ý khi dùng Sâm triều tiên
- Những bệnh nhân có biểu hiện tỳ vị nhiệt thực, thực chứng, nhiệt chứng, phế thu hỏa tà, nấc, đau tức vùng ngực và bụng có tích chất đều không nên sử dụng Sâm Triều Tiên. Tương tự, những trường hợp ho nhiều đờm, táo bón cũng là chống chỉ định tuyệt đối với dược liệu này.
- Tương kỵ: Sâm Triều Tiên không được kết hợp với lê lô, ố tạo giác, hắc đậu vì các dược liệu này tương phản với nhau. Khi chế biến Sâm Triều Tiên cần tránh sử dụng các dụng cụ kim loại sắt.
Nguồn tham khảo
1) Tra cứu dược liệu: https://tracuuduoclieu.vn/nhan-sam.html
2) Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – tập II.
3) Dược điểm Việt Nam 5: https://duocdienvietnam.com/nhan-sam/

