Cây sòi là một loài cây gỗ có chiều cao trưởng thành từ 4-6m, với vỏ màu xám và lá hình dạng bầu dục. Bộ phận sử dụng của cây sòi bao gồm vỏ rễ, thân, lá và hạt, được ứng dụng trong điều trị các bệnh lý như u cục, tích tụ chất lỏng, não úng thủy, viêm da, và nhiều vấn đề khác. Cây sòi chứa các thành phần hóa học như pholoraxetophenone, anthocyanins, axit linoleic, và vitamin E, có tác dụng sát trùng, giải độc, lợi tiểu, và chống oxy hóa.
Tìm hiểu chung về Sòi
Tên gọi, danh pháp
- Tên Việt: Sòi.
- Tên gọi khác: Sòi xanh; Ô cửu; Ô thụ quả; Ô du; Thác tử thụ; Cửu tử thụ.
- Danh pháp khoa học: Sapium sebiferum (L.) Roxb.
Đặc điểm tự nhiên
- Sòi là loài cây gỗ với chiều cao trưởng thành từ 4 – 6 m. Thân cây có vỏ màu xám; lá sắp xếp so le, rụng mùa đông, hình dạng bầu dục với kích thước dài 3 – 7 cm, đỉnh lá nhọn dài, cuống lá kéo dài. Hoa có màu trắng hoặc vàng, xuất hiện tại nách lá và đầu cành; phần hoa cái tập trung ở vị trí gốc với số lượng lớn, hoa đực nằm ở phần ngọn. Lá hoa có dạng nhọn, cuống dài; quả hình cầu với đường kính khoảng 12 mm, khi chín hoàn toàn chuyển sang màu tím đen, bên trong chia thành 3 buồng, mỗi buồng chứa một hạt hình bầu dục. Hạt chứa dầu, phía ngoài hạt bao phủ một lớp chất sáp trắng được gọi là bơ hay mỡ thực vật. Chu kỳ ra hoa diễn ra vào tháng 3 – 4, chu kỳ đậu quả kéo dài đến tháng 10 – 12.
Phân bố, thu hái, chế biến
- Sòi phân bố tự nhiên khắp vùng trên lãnh thổ Việt Nam. Ở khu vực phía Bắc và Trung Bộ, cây thường được canh tác với mục đích nhuộm sợi lụa hoặc sản xuất màu đen sa tanh. Ngoài ra, loài này còn được trồng quy mô lớn tại Hoa Kỳ, Trung Quốc, Nhật Bản và nhiều nước Đông Nam Á khác, được xem là nguồn hạt dầu có giá trị kinh tế.
- Sòi ưa ánh sáng, tăng trưởng nhanh chóng, thích nghi với nhiều loại đất khác nhau. Cây thường xuất hiện ở rừng thứ sinh, rừng bạch dương, vùng đồi núi. Đặc tính sinh sản của cây là cho quả nhiều mỗi năm, tái sinh tự nhiên thông qua hạt, và có khả năng phục hồi tự nhiên từ cây mẹ sau khi cắt tỉa.
- Hai bộ phận dược liệu chính được khai thác từ sòi là vỏ rễ đã được phơi hay sấy khô, được gọi là vỏ rễ Ô Cửu. Dầu hạt vỏ trai là hỗn hợp chất sáp bao quanh lớp ngoài hạt kết hợp với dầu chiết xuất từ hạt ngao, có tên gọi là Ô Cửu Chi hay Bí Du.
- Quá trình thu hái hạt thực hiện vào mùa thu, cuối thu; quả được hái về rồi phơi nắng, sau đó giã nhỏ để tách hạt. Hạt được nung nóng nhằm làm chảy lớp sáp bao phủ bề ngoài, khi nguội đông lại, phần sáp này trở thành loại sáp chất lượng cao nhất. Hạt còn lại được nghiền và ép lấy dầu lỏng.
- Sáp và dầu có thể tách riêng hoặc kết hợp với nhau. Theo quy ước ở Trung Quốc, lớp sáp ngoài được gọi là derriere, dầu ép từ hạt được gọi là bí xanh hoặc cuu yu. Khi ép toàn bộ lớp ngoài cùng hạt thành một hỗn hợp thống nhất, sản phẩm được gọi là mao trùng.
- Vỏ rễ và vỏ thân được thu hái quanh năm, cắt nhỏ và phơi khô. Lá thường được sử dụng ở dạng tươi.
Bộ phận sử dụng
- Sòi có thể thay thế bơ ca cao trong công nghệ chế tạo thuốc đạn, xà phòng, trộn với sáp ong để sản xuất nến hoặc điều trị một số bệnh lý da liễu. Vỏ rễ được áp dụng theo kinh nghiệm lâm sàng trong điều trị các trường hợp u cục, tích tụ chất lỏng và não úng thủy, cũng như các triệu chứng chướng bụng, khó tiểu. Thân cây và lá được vận dụng để chữa viêm da có mủ, lở ngứa, lở loét và chai sần da.
Thành phần hóa học
- Vỏ rễ của cây Sòi chứa pholoraxetophenone 2-4 dimethyl ether, hoạt chất này thể hiện tác dụng sát trùng đối với hệ tiêu hóa. Ngoài ra, từ vỏ rễ cũng có thể phân lập được anthocyanins — nhóm sắc tố thực vật có giá trị sinh học cao.
- Phần lá của Sòi tích tụ nhiều thành phần có hoạt tính dược lý, gồm chất béo, vitamin E, tanin, axit ellagic, corilagin và axit gallic.
- Dầu chiết từ hạt Sòi có thành phần chính là axit linoleic, axit linolenic, các axit amin thiết yếu và các vitamin nhóm B đa dạng. Phần thức ăn còn lại sau quá trình chiết dầu sở hữu hàm lượng protein cao, có thể được ứng dụng như nguồn phân bón hoặc nguyên liệu thực phẩm.
Công dụng của Sòi
Theo y học cổ truyền
- Theo các tài liệu y văn cổ truyền, Sòi được ghi nhận có vị đắng, tính ấm và có độc tính. Dược liệu này phát huy tác dụng sát trùng, giải độc, lợi tiểu, nhuận phế, thông lợi phế khí và trục thủy (ức chế tích tụ dịch trong cơ thể).
Theo y học hiện đại
- Các phép thử nghiệm in vitro đã chứng minh rằng dịch chiết từ vỏ rễ Sòi có khả năng ức chế sự phát triển của nhiều mầm bệnh phổ biến như Staphylococcus faecalis, Klebsiella pneumoniae và Streptococcus pneumoniae. Nước sắc từ lá Sòi cũng thể hiện hoạt tính ức chế đối với nhiều chủng Staphylococcus, Shigella và Pseudomonas aeruginosa — các chủng vi khuẩn đã phát triển kháng thuốc kháng sinh thông thường.
- Chiết xuất phenolic của lá Sòi có khả năng ức chế phù nề da phát sinh từ viêm da tiếp xúc dị ứng, giúp làm giảm các triệu chứng lâm sàng. Cơ chế tác dụng được giải thích thông qua hoạt tính kháng viêm và khả năng ức chế quá trình oxy hóa của dược liệu. Những nghiên cứu bổ sung cũng xác nhận lá Sòi tươi sở hữu tác dụng chống oxy hóa đáng kể, từ đó được xem là tiềm năng trong phát triển các chất chống oxy hóa từ thảo dược, phục vụ điều trị các bệnh lý liên quan đến stress oxy hóa.
Liều dùng và cách dùng Sòi
Liều dùng:
- Người trưởng thành: 10-12 gam bột mỗi ngày (có thể tăng liều lên đến 50-60 gam tùy theo tình trạng bệnh).
- Trẻ em: liều trung bình từ 5-10 gam mỗi ngày.
- Thời gian sử dụng: khoảng 7-10 ngày.
Bài thuốc kinh nghiệm
Điều trị mụn nhọt, mẩn ngứa, chảy nước vàng
- Dầu hạt sòi (gồm cả sáp và nhân) 100g, Hồng đơn 50g, nước 100g.
- Phương pháp: Đun nóng dầu và nước, sau đó cho Hồng đơn vào, khuấy đều liên tục rồi tiếp tục đun sôi. Cộng thêm nước và nấu tiếp cho đến khi Hồng đơn đổi màu. Bôi hỗn hợp mỡ này lên vùng mụn trứng cá và mạch lươn.
Điều trị não úng thủy, chướng bụng, ăn uống thiếu chất
- Vỏ rễ Sòi (chỉ lấy lớp vỏ lụa sau khi khô), tán thành bột mịn. Dùng nước vo gạo vo thành những viên tròn cỡ hạt đậu xanh. Hoặc có thể dùng táo đen Trung Quốc (một quả táo đen đun với 6 phần nước cho đến nhão, rây loại hạt). Trộn bột vỏ rễ với đại táo tạo thành viên thuốc gọi là ô táo hoàn.
- Liều: 10 – 20 gam mỗi ngày.
Phù, cổ trướng, táo bón, giữ nước hoặc cảm giác no lâu, không tiêu được
- Màng rễ Sòi (lớp trắng bên trong), hạt Cau, Mộc thông, mỗi vị 12 gam, sắc uống.
Xử lý rắn cắn
- Lá hoặc rễ tươi giã nát để lấy nước uống, đồng thời dùng bã thuốc đắp lên vết rắn cắn.
Điều trị táo bón
- Dầu hạt sòi trắng, 1 muỗng canh, uống trong vòng một ngày.
Chữa bệnh sán máng
- Lá Sòi 8-30g sắc uống. Khoá trị liệu kéo dài 20 – 30 ngày.
Lưu ý khi dùng Sòi
- Do sòi sở hữu tính chất lợi tiểu rõ rệt và khả năng thanh lọc mạnh mẽ, những người có thể trạng gầy yếu, suy nhược cơ thể không nên sử dụng thường xuyên, vì có nguy cơ làm suy kiệt thêm các chất dinh dưỡng và năng lượng cơ thể.
Nguồn tham khảo
Đỗ Tất Lợi (2004). Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam. NXB Y học, Hà Nội
Võ Văn Chi (2012). Từ điển Cây thuốc Việt Nam, tập 2. NXB Y học, Hà Nội.
Đỗ Huy Bích, Đặng Quang Chung và cs. (2004). Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam, tập 2. NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội.
Fu R, Guo Y, Zhang Y, Peng T, et al, (2015), "Phenolic composition and effects on allergic contact dermatitis of phenolic extracts Sapium sebiferum (L.) Roxb. leaves", Journal of Ethnopharmacology, volume 162 pp. 176-180

