Phèn đen là cây gì? Tìm hiểu những công dụng điều trị bệnh của phèn đen

bởi thuvienbenh

Phèn đen là cây thuốc quý có nhiều công dụng, bao gồm điều trị lỵ, viêm niêm mạc ruột, lao ruột, và các vấn đề về tiêu hóa. Với tính chất sát trùng và thúc đẩy tiểu tiện, lá phèn đen cũng được sử dụng để điều trị ngộ độc hóa chất, vết cắn rắn và sốt kèm lỵ. Bài viết sẽ khám phá sâu về công dụng, cách sử dụng và lưu ý khi dùng phèn đen.

Tìm hiểu chung về Phèn đen

Tên gọi, danh pháp

  • Tên phổ biến: Phèn đen.
  • Các tên gọi khác trong tiếng Việt: Tạo phan diệp, Cây mực, Chè nộc, Chè con chim, Co ranh, Mạy tẻng đăm, Phèn đen.
  • Danh pháp khoa học: Phyllanthus reticulatus, thuộc họ Thầu dầu (Euphorbiaceae).

Đặc điểm tự nhiên

  • Phèn đen là cây gỗ nhỡ có chiều cao từ 2 đến 4 m. Cành và nhánh mang màu đen nhạt, lá mọc so le nguyên với hình thái đa dạng theo điều kiện sinh trưởng. Lá đơn, thùy lá có hình bầu dục hoặc trứng ngược, khả năng thay đổi hình dạng theo mùa vụ. Lá mỏng manh, phần mặt trên tối hơn mặt dưới, dài khoảng 1,5 – 3 cm, rộng 6 – 12 mm. Lá kèm có hình tam giác hẹp.
  • Hoa mọc độc lập hoặc tập hợp 2 – 3 bông thành chùm, xuất hiện từ nách lá. Hoa nhỏ, màu trắng với các vạch vàng chạy dọc trên cánh. Quả có hình cầu, turgid đầy nước, khởi đầu trắng, sau chuyển sang đỏ hồng nhạt, khi trưởng thành chuyển đen. Thời kỳ ra hoa và kết quả kéo dài từ tháng 8 đến tháng 10 hàng năm.

Phân bố, thu hái, chế biến

  • Phèn đen là loài cây vùng nhiệt đới, mọc ven rừng rậm thường xanh hoặc rừng rụng lá theo mùa, ven các tuyến đường, trên nhiều loại nền đất khác nhau, ở độ cao 100 – 800 m, ưu tiên các vị trí có cường độ ánh sáng cao. Cây được trồng phổ rộng trên toàn lãnh thổ Việt Nam, thích ứng tốt với đa dạng điều kiện địa phương kể cả những khu vực có khí hậu nóng bức. Ở các tỉnh Đồng Nai, Long An, Sóc Trăng, Tây Ninh, Đăk Lăk và các địa phương khác, cây mọc hoang dã trong các bụi cây ven đường, bờ ruộng. Ngoài Việt Nam, phèn đen còn phân bố tự nhiên từ Ấn Độ, Mianma, Sri Lanka, Trung Quốc, Lào, Campuchia, Thái Lan, Malaixia, Indonexia cho đến Australia.
  • Lá được thu hái trong mùa xuân hè, phơi khô dưới bóng mát và lưu trữ trong điều kiện khô ráo. Thân cây có thể thu hái quanh năm bằng cách bóc vỏ, có thể sử dụng tươi, phơi khô hoặc sao vàng rồi hạ thổ. Rễ thu hái vào mùa thu, rửa sạch, cắt nhỏ, phơi khô và bảo quản.
Xem thêm:  Thiên Môn: Dược liệu quý trong điều trị bệnh hô hấp

Bộ phận sử dụng

  • Các bộ phận được khai thác từ phèn đen chủ yếu là rễ và lá. Một số phương pháp điều trị tại các địa phương cũng có sử dụng vỏ thân cây.

Thành phần hóa học

  • Trong quả của phèn đen tồn tại chất anthocyanin, đây là hoạt chất tạo ra sắc tím đặc trưng và có vai trò như chất chỉ thị màu tự nhiên.
  • Các thành phần hóa học của những bộ phận khác của phèn đen hiện chưa được các nhà khoa học tiến hành nghiên cứu chi tiết.

Công dụng của Phèn đen

Theo y học cổ truyền

  • Rễ phèn đen mang vị chát, tính lạnh, được ghi nhận có khả năng thu liễm, chỉ tả và ức chế viêm theo các tài liệu y học cổ truyền. Rễ cây được sử dụng trong điều trị lỵ, viêm niêm mạc ruột, lao ruột, viêm cơ thận, tích thực ở trẻ em và viêm mô gan.
  • Lá phèn đen sở hữu tính chất sát trùng, thúc đẩy tiểu tiện, thanh nhiệt cơ thể, giải độc và có khả năng loại bỏ các chất độc hại. Trong thực hành lâm sàng, lá được ứng dụng điều trị các trường hợp ngộ độc hóa chất, vết cắn rắn hoặc sốt kèm lỵ, tiêu chảy, chứng huyết nhiệt sinh mủ nhọt, phù nề chi thể, và ứ máu do chấn thương.
  • Ở Ấn Độ, các thầy thuốc truyền thống đã phát triển phương pháp chiết xuất nước lá kết hợp với long não và màng tang để điều trị các tổn thương miệng do vấn đề nha chu hoặc tiêu chảy ở lứa tuổi trẻ.

Theo y học hiện đại

  • Phèn đen được xác định là một loài cây dại không được canh tác. Quả của cây có hương vị ngọt nhẹ chát, nhưng giá trị dinh dưỡng cực kỳ hạn chế. Cho đến nay, các nghiên cứu dược lý hiện đại vẫn chưa được tiến hành một cách hệ thống đối với dược liệu này.

Liều dùng và cách dùng Phèn đen

  • Phèn đen được áp dụng dưới hai hình thức chính là sắc nước uống nội hoặc bôi/đắp ngoài da. Liều lượng sử dụng thay đổi tùy theo mục đích điều trị cụ thể và nhóm tuổi của người bệnh.

Bài thuốc kinh nghiệm

Trị kiết lỵ

  • Kết hợp cam thảo đất, mạch nha và ý dĩ đã được phơi khô, tán thành bột với tỷ lệ khối lượng bằng nhau. Lấy ½ thìa hỗn hợp bột trên hòa tan cùng với nước rút từ lá phèn đen tươi được giã nát và uống. Tiếp tục sử dụng cho đến khi triệu chứng bệnh cải thiện rõ rệt thì ngừng.

Trị rắn cắn

  • Lá phèn đen tươi được giã nát, uống phần nước rút ra, lấy cặn bã đắp lên vùng bị cắn. Bột lá có khả năng cầm máu, kích thích tái tạo biểu bì non và phục hồi vết thương mở với hiệu quả đáng chú ý. Có thể phối kết lá long não và lá xuyên tiêu cùng lá phèn đen đã phơi khô, ngậm hỗn hợp trong miệng để cầm máu.
Xem thêm:  Phòng Phong: Thảo dược quý giúp giải cảm, trị phong thấp hiệu quả

Nhọt độc mới phát

  • Giã nát lá phèn đen và lá bèo ván, đắp trực tiếp lên khu vực nhọt mới xuất hiện.

Vết thương

  • Rắc bột lá phèn đen lên bề mặt vết thương để tăng tốc độ liền sẹo và tái sinh biểu bì non. Khi gặp chấn thương, chỉ cần rắc một lượng nhỏ bột lá lên vết thương trong vài ngày sẽ thấy hồi phục nhanh chóng.

Lưu ý khi dùng Phèn đen

  • Hiện chưa có dữ liệu cảnh báo hoặc thông tin chống chỉ định cụ thể cho dược liệu này.

Nguồn tham khảo

Từ điển cây thuốc Việt nam – Võ Văn Chi.

Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi.

Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam (Tập 1).

Bài viết này có hữu ích không?
0Không0