17
Hắc sâm là dược liệu quý, có vị đắng ngọt và tính mát, thường được sử dụng để tự âm giáng hỏa, lương huyết giải độc, kích thích sinh tân dịch và nhuận táo. Công dụng của hắc sâm bao gồm hỗ trợ điều trị sốt cao, mụn nhọt mủ, táo bón và các tình trạng liên quan.
Tìm hiểu chung về Hắc sâm
Tên gọi, danh pháp
- Hắc sâm mang danh pháp khoa học là Scrophularia ningpoensis Hemsl., thuộc về họ Scrophulariaceae (họ Hoa Mõm sói) — một nhóm thực vật có hoa đã được các nhà phân loại học công nhận.
Đặc điểm tự nhiên
- Hắc sâm là cây thảo với thân mềm, chiều cao trưởng thành khoảng 1,5 – 2m, có tính sống lâu năm. Thân cây mọc thẳng đứng, có tiết diện hình vương, bề mặt có các rãnh chạy dọc rõ rệt; ở giai đoạn non, thân có lông mềm, sau khi trưởng thành trở nên nhẵn hoặc chỉ còn ít lông tuyến tán rải rác. Lá sắp xếp đối xứng, hình dạng trứng hoặc mác, kích thước 7 – 20cm chiều dài và 3,5 – 12cm chiều rộng, phần gốc lá hình nêm, phần đỉnh nhọn, cạnh lá có hàng răng cưa nhỏ; mặt lá trên có màu lục sẫm đậm, mặt lá dưới nhạt hơn với lông nhỏ rải rác; cuống lá dài 2 – 4cm.
- Cụm hoa mọc tập trung ở đỉnh thân và các kẽ lá nơi nhánh cây, tập hợp thành dạng chuỳ to chứa nhiều xim hoa tán lớn; hoa có màu vàng nâu hoặc tím đỏ; đài hoa có 5 răng dính liền nhau, mép mỏng, bề ngoài có lông tuyến; tràng hoa hình chén với môi trên dài hơn môi dưới; nhị có 4 cái, trong đó 2 cái dài và 2 cái ngắn thoái hoá gần như hình tròn.
- Quả là nang hình trứng, dài 8 – 9mm, có đài hoa tồn tại ở phía trên, chứa nhiều hạt nhỏ màu đen.
- Mùa hoa quả: Tháng 6 – 10.
- Rễ củ có chiều dài 3 – 15cm, phần trên hơi phình to rồi dần thuôn nhỏ về phía dưới, một số rễ có độ cong nhẹ. Bề mặt ngoài của rễ màu nâu đen hoặc nâu xám, có nhiều rãnh sâu lộn xộn và các nếp nhăn, kèm theo nhiều vết tích của các đoạn rễ nhỏ hay rễ con còn sót lại cùng các lỗ vỏ nằm ngang. Lõi rễ có màu đen, được bao bọc bởi lớp bần mỏng bên ngoài, phía trong có nhiều bó libe – gỗ tạo thành mạng lưới tỏa ra. Rễ Hắc sâm có tính mềm, hơi dẻo, vị hơi ngọt kết hợp với vị hơi đắng, có mùi đặc trưng tương tự mùi của đường bị cháy.
- Dược liệu Hắc sâm được cắt thành lát mỏng: Dược liệu ở dạng những lát mỏng có hình bầu dục hoặc gần tròn, bề mặt rễ bên ngoài có màu nâu xám hoặc vàng xám. Bề mặt cắt lát có màu đen sâu, có thể xuất hiện các khe nứt nhỏ, bóng bẩy nhẹ, vị hơi ngọt kết hợp với hơi đắng, mùi đặc trưng giống như mùi đường bị cháy.
Phân bố, thu hái, chế biến
Phân bố
- Hắc sâm từ Trung Quốc được đưa vào Việt Nam từ những năm 1960. Lúc đầu, loài cây này được thí điểm canh tác ở Sapa và Bắc Hà (tỉnh Lào Cai), sau đó được mở rộng trồng xuống các địa phương như Tam Đảo (Vĩnh Phúc), Sìn Hồ (Lai Châu), Phó Bảng – Đồng Văn (Hà Giang), Bá Thước (Thanh Hóa).
- Hiện tại, cây đã tự mọc hoang dã trong tự nhiên, lẫn lộn với nhiều loài thực vật khác ở khu vực ven đường giao thông, rìa rừng và bờ ruộng nương.
Thu hái và chế biến
- Rễ củ Hắc sâm được thu hái vào mùa đông, khi phần thân và lá cây đã hoàn toàn tàn lụi. Quá trình thu hái bao gồm: đào lấy rễ từ đất, rửa sạch bụi cát, cắt bỏ rễ con nhỏ rồi tách riêng từng rễ và phân loại theo kích thước. Tiếp theo, sấy hoặc phơi ở nhiệt độ 50 – 60°C cho đến khi gần khô. Sau đó, ủ rễ trong khoảng 5 – 10 ngày, cho đến khi phần ruột bên trong rễ chuyển sang màu nâu đen hoặc đen hoàn toàn, rồi tiếp tục phơi cho đến khi hoàn toàn khô.
- Quy trình ủ dược liệu Hắc sâm: Trải dược liệu sau khi phơi gần khô lên nong nia theo lớp dày khoảng 15cm, phủ một lớp rơm mỏng hoặc đậy bằng một nong nia khác, để ở nơi mát, đảo trộn vài lần mỗi ngày. Tuyệt đối không được xếp dược liệu quá dày, cần thường xuyên đảo trộn và không nên đậy quá kín vì dược liệu dễ bị hấp hơi dẫn đến hư hỏng. Khi cần sử dụng, rửa sạch dược liệu, ủ rễ Hắc sâm đến mềm rồi cắt thành lát mỏng và phơi khô.
Bảo quản
- Lưu trữ ở nơi khô ráo, tránh điều kiện ẩm ướt và tránh các loài côn trùng gây hại.
Bộ phận sử dụng
- Rễ và rễ củ.
Công dụng của Hắc sâm
Theo y học cổ truyền
- Hắc sâm mang vị đắng kết hợp ngọt, tính mát, tác dụng quy vào hai kinh Phế và Thận. Công năng cơ bản gồm tự âm giáng hỏa, lương huyết giải độc, kích thích sinh tân dịch, nhuận táo và hoạt động ruột kết. Nói cách khác, dược liệu giúp bổ sung chất âm của cơ thể, làm mát tính chất nội tại, điều trị các hội chứng nóng, bốc hỏa, mụn nhọt mủ, táo bón và các tình trạng liên quan.
- Trong lâm sàng, hắc sâm được chỉ định chủ yếu cho các bệnh nhân sốt cao, sốt thấp thoáng chiều tối, loét miệng lưỡi, viêm họng cấp, các loại mụn nhọt mủ, phát ban, mẩn ngứa và táo bón. Ngoài ra, theo kinh nghiệm dân gian và y văn cổ, dược liệu còn được khai thác tính nhuyễn kiên và tán kết để hỗ trợ làm mềm các khối u rắn chắc trong cơ thể.
Theo y học hiện đại
- Tác dụng trên tim: Các mô hình thực nghiệm cho thấy cao lỏng hắc sâm ở nồng độ thấp (0,01 – 0,02%) làm tăng cường lực co bóp của cơ tim ếch; ở nồng độ trung bình (0,1%) gây suy yếu lực co tim, nhịp tim chậm lại; ở nồng độ cao (10%) dẫn đến ngưng tuần hoàn tim.
- Tác dụng trên hệ mạch máu: Hắc sâm thể hiện khả năng giãn nở các mạch máu. Khi tiêm tĩnh mạch cao lỏng hắc sâm cho động vật thí nghiệm (thỏ) với liều nhỏ (1 – 4 ml), huyết áp tăng nhẹ rồi giảm dần và cuối cùng ổn định trở lại; liều lớn (10 ml) gây giảm huyết áp tạm thời kèm theo tăng biên độ hô hấp rõ rệt.
- Tác dụng trên nồng độ glucose máu: Sau tiêm dưới da dung dịch hắc sâm ở động vật thí nghiệm (thỏ), mức đường huyết quan sát được thấp hơn giá trị chuẩn khoảng 15 mg/100 ml máu.
- Tác dụng kháng khuẩn: Hắc sâm thể hiện hoạt tính kháng sinh rộng trên nhiều chủng vi khuẩn gây bệnh da liễu ngoài da.
Liều dùng và cách dùng Hắc sâm
- Dạng sắc thuốc: Liều lượng khuyến cáo hàng ngày từ 8 – 15 g.
Bài thuốc kinh nghiệm
Tăng dịch thang
- Sắc uống hỗn hợp gồm: Hắc sâm 40g, Mạch môn đông 32g, Sinh địa 32g. Áp dụng trong điều trị các trường hợp bệnh nhân có triệu chứng sốt cao, cảm giác nóng rát trong cơ thể, táo bón kèm theo khô khát và niêm mạc miệng lưỡi khô.
Thanh dinh thang
- Sắc các thành phần: Hắc sâm 12g, Hoàng liên 6g, Đan sâm 8g, Liên kiều 8g, Mạch môn đông 12g, Kim ngân hoa 12g, Sinh địa 20g, Trúc diệp 4g, từ 8 chén nước còn 3 chén. Dùng hàng ngày 3 lần để hỗ trợ điều trị những bệnh nhân biểu hiện sốt cao, khát nước nhiều, rối loạn giấc ngủ, tâm thần không tỉnh táo, nói lảm nhảm.
Thiên vương bổ tâm đan
- Các vị thuốc: Hắc sâm, Bạch linh, Cát cánh, Đan sâm, Nhân sâm, Viễn chí mỗi loại 20g; Sinh địa 160g; Bá tử nhân, Đương quy, Mạch môn, Thiệu môn, Toan táo nhân mỗi loại 40g. Nghiền thành bột mịn, tạo thành viên hoàn có kích thước như hạt bắp, phủ ngoài một lớp Chu sa. Bệnh nhân uống thuốc với nước ấm vào lúc dạ dày rỗng để điều trị các triệu chứng mất ngủ, hồi hộp, mệt mỏi, cảm giác đánh trống ngực.
Trị viêm họng, cổ họng sưng đỏ, viêm amidan gây sốt
- Sắc uống hỗn hợp: Hắc sâm 12 – 20g, Bạc hà 8g, Cát cánh 8 – 12g, Cam thảo 4g, Hoàng cầm 8 – 12g, Liên kiều 8 – 12g, Mạch môn 12g, Ô mai 2 quả, Sinh địa 12 – 16g, Sa sâm 12g. Bạc hà được cho vào sau cùng trước khi sắc xong.
Trị tróc da tay
- Hãm Hắc sâm và Sinh địa, mỗi thứ 30g với nước nóng, sau đó uống như trà trong suốt ngày.
Trị hoa mắt, quáng gà
- Hầm mềm Hắc sâm 15g cùng 500g gan lợn với lượng nước vừa đủ, nêm gia vị thích hợp. Dùng cả nước lẫn phần rắn để hỗ trợ bệnh nhân có tình trạng can âm bất túc, quáng gà, hoa mắt, mắt cay, các bệnh gan mạn tính và những biến chứng liên quan.
Trị nhức đầu
- Hắc sâm 500g, mỗi lần lấy 50g, sắc đặc còn 50ml, uống khi thuốc vẫn nóng để điều trị đau đầu do nhiễm phong nhiệt gây ra.
Trị ho
- Hắc sâm 3g, mạch môn đông 3g, cát ngạch 3g, cam thảo 3g, đạm trúc diệp 10g, đan sâm 8g, hoàng liên 6g. Sắc lọc bỏ cặn, uống thay trà để hỗ trợ các triệu chứng phế âm bất túc gây ngứa họng, ho kéo dài, họng khô, miệng khát.
Trị các bệnh về mũi họng
- Nghiền thành bột các thành phần: Hắc sâm 5g, bạch hoa xà thiệt thảo 30g, hoàng cầm 9g, kim ngân hoa 9g, mạch môn 5g, rễ cỏ tranh 5g, sinh địa 9g, sơn đậu căn 9g, sa sâm 9g, mao đằng ngẫu phiến 30g. Sau đó sắc nước uống như trà để hỗ trợ sau giai đoạn điều trị các bệnh về mũi họng có phản ứng nhiệt.
Lưu ý khi dùng Hắc sâm
- Trong quá trình sử dụng hắc sâm, cần tránh các thực phẩm có vị đắng, tính lạnh như ốc hến, khổ qua và các loại tương tự, bởi vì dược liệu này mang tính mát có thể gây tác động không mong muốn khi kết hợp.
- Chống chỉ định đối với những người có tiền sử lạnh bụng, dễ tiêu chảy hoặc chức năng tiêu hóa yếu, vì bạch sâm có thể làm trầm trọng thêm những tình trạng này.
- Không được sử dụng các dụng cụ bằng đồng trong quá trình bào chế hắc sâm.
- Hắc sâm và Lê lô là hai vị thuốc có tính chất tương phản nhau, do đó tuyệt đối không nên phối hợp sử dụng chung trong cùng một phương thuốc.
- Hắc sâm là dược liệu quý hiếm được canh tác tập trung chủ yếu ở Trung Quốc, và mặc dù nguồn gốc từ tự nhiên nhưng vẫn mang những chỉ định rõ ràng, chống chỉ định cụ thể và khả năng gây tác dụng phụ. Người bệnh và gia đình không nên tự phán đoán hoặc áp dụng các bài thuốc kinh nghiệm mà chưa được chuyên gia xác nhận. Cần tham khảo ý kiến của bác sĩ chuyên khoa để đánh giá chính xác tình trạng sức khỏe cá nhân và nhận được tư vấn phù hợp. Nếu thấy nội dung bài viết có giá trị, xin hãy chia sẻ để nhiều người được cập nhật thông tin. Chúng tôi kỳ vọng tiếp nhận những đóng góp ý kiến cũng như sự quan tâm theo dõi từ quý độc giả trong các bài viết tiếp theo.
Nguồn tham khảo
Dược điển Việt Nam V.
Những Cây thuốc và Vị thuốc Việt Nam (Đỗ Tất Lợi).
Tra cứu dược liệu.
Sách "Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập 1".
Báo "Sức khoẻ và đời sống".
Bài viết này có hữu ích không?
Có0Không0

