Củ đậu: Công dụng đối với cơ thể và cách dùng cần lưu ý

bởi thuvienbenh

Củ đậu là một loại dược liệu có vị ngọt nhạt, tính mát, quy vào kinh Phế và Vị, được sử dụng để giải khát, bổ ích cho tràng vị. Ngoài ra, củ đậu còn có tác dụng kháng u, độc tế bào và diệt côn trùng, được dùng để điều trị một số bệnh lý da liễu và phòng trừ sâu hại cây. Tuy nhiên, cần lưu ý khi sử dụng hạt và lá của củ đậu do chứa độc tính.

Tìm hiểu chung về Củ đậu

Tên gọi, danh pháp của củ đậu

  • Tên gọi Việt: Củ đậu.
  • Tên gọi khác: Củ sắn.
  • Danh pháp khoa học: Pachyrhizus erosus (L.) Urb, (Dolichos erosus L.), thuộc họ Fabaceae (Đậu).

Đặc điểm tự nhiên của củ đậu

  • Cây thuộc dạng thảo dây leo, thời gian sống một vụ. Hệ rễ phát triển thành rễ củ mập, hình dạng giống con quay, đôi khi có phần hơi dẹt, lớp vỏ ngoài mang sắc vàng ố. Thân cây có xu hướng gỗ hóa, các cành có lông mỏng rải rác và rụng sớm trong mùa. Lá kép gồm 3 lá chét tương đối rộng, bề mặt nhẵn, kích thước dài 4 – 8 cm và rộng 4 – 12 cm; lá chét ở hai bên lệch không đối xứng, có 3 gân chính xuất phát từ gốc lá, các gân phụ tạo thành mạng lưới, mép lá hơi khía hình răng cưa; cuống lá kép dài 7 – 15 cm, các lá kèm rụng sớm.
  • Cụm hoa phát sinh tại vị trí kẽ lá, tập trung thành chùm dày đặc; có lá bắc nhỏ; hoa mọc sâu đặc ở phần ngọn, màu sắc đỏ tía hoặc tím nhạt; hoa có hình dạng chuông, mang lông tơ, có 4 răng; cánh hoa có móng dài đặc trưng, cánh cờ mang hình mắt chim và 2 tai nhỏ, cánh môi gần hình liềm; nhị sắp xếp thành 2 bó; bầu có lông phủ.
  • Quả có lông rải rác, không có cuống, kích thước dài 12 cm, rộng 12 mm, ở vị trí các hạt có lõm nhẹ xuống. Quả chứa tới 9 hạt, mỗi hạt có đường kính khoảng 7 mm, hình thấu kính. Hạt có vỏ cứng và khó được giã nhỏ.
  • Kỳ hoa: Tháng 6 – 8; kỳ quả: Tháng 9 – 11.

Phân bố, thu hái, chế biến

  • Dương liệu này có nguồn gốc từ Mexico và vùng Trung Mỹ, rồi được phát triển trồng trọt rộng rãi khắp các khu vực nhiệt đới ở Nam và Bắc bán cầu. Trong phạm vi Châu Á, Việt Nam là quốc gia canh tác nhiều nhất, cùng với Lào, Campuchia, Thái Lan, Indonesia, Philippin, Ấn Độ và Trung Quốc.
  • Cây có khả năng thích nghi tốt với điều kiện khí hậu nhiệt đới nóm ẩm. Trong năm đầu tiên trồng, cây đã ra hoa quả phong phú, tuy nhiên rụng lá và tàn lụi khi vào mùa đông. Dù vậy, phần rễ củ nằm dưới lớp đất có khả năng mọc chồi trở lại vào mùa xuân của năm tiếp theo.
  • Thời kỳ thu hoạch hạt: Tháng 11 – 12.
Xem thêm:  Tạng Can Trong Đông Y: Vai Trò, Chức Năng và Cách Chăm Sóc Toàn Diện

Bộ phận sử dụng

  • Rễ củ, hạt và lá được sử dụng trong lâm sàng.

Thành phần hóa học

  • Trong phần rễ củ (sau khi loại bỏ vỏ ngoài) chứa khoảng 90% thành phần nước; 2,4% tinh bột; 4,51% tổng lượng đường (tính theo glucose), 1,46% protid, 0,39% khoáng chất, không phát hiện chất béo, không có tannin, không chứa axit xyanhydric. Dược liệu này còn có các men sinh học gồm peroxydase, amylase và photphatase.
  • Hạt củ đậu có thành phần khác biệt: 12,27% độ ẩm; 20,13% chất béo; 30,61% chất protid; 4,8% tannin; 5,85% tinh bột; 3,25% tổng đường (tính bằng glucose). Hạt chứa hai hoạt chất độc rotenone C23H22O6 và tephrosin C23H22O7.
  • Ngoài những thành phần trên, các nhà nghiên cứu còn phân lập được một hỗn hợp vô định hình chủ yếu gồm các retinoid và pachyrrhizin.
  • Nồng độ rotenone trong hạt dao động từ 0,56 – 1,01%. Lá dược liệu cũng tích tụ các chất rotenoid, pachyrrhizin và các steroid tự do tương tự như trong hạt.

Công dụng của Củ đậu

Công dụng của củ đậu theo y học cổ truyền

  • Theo kinh nghiệm y học cổ truyền, củ đậu có vị ngọt nhạt, tính mát, quy vào kinh Phế và Vị. Khi sử dụng sống, dược liệu có khả năng giải khát hiệu quả; nếu nấu chín thì phát huy tác dụng bổ ích cho tràng vị.
  • Rễ củ đậu không có độc tính, có thể dùng sống hoặc chế biến bằng cách xào nấu. Trong thực hành dân gian, người dân thường ép lấy nước từ dược liệu để bôi lên da nhằm mục đích làm mịn màng da và cải thiện tình trạng nẻ.
  • Hạt chứa độc tính đối với cá và các loài sâu bọ; tại Trung Quốc, nhân dân lợi dụng tính chất này để kiểm soát các loài côn trùng hại cây trồng, rệp bông và rầy bông (phương pháp: giã nhỏ một kg hạt, pha trộn với nước xà phòng và 200ml nước).
  • Trong thực hành y dân Việt Nam, hạt được giã nhỏ và trộn với dầu để điều trị một số bệnh lý da liễu; tuy nhiên do chứa độc tính, cần tuân thủ chặt chẽ để tránh ngộ độc.

Công dụng của củ đậu theo y học hiện đại

Tác dụng kháng u và độc tế bào:

  • Các công trình nghiên cứu được thực hiện tại Indonesia đã ghi nhận hạt dược liệu này thể hiện tiềm năng kháng u đáng kể.
  • Cao chiết từ hạt bằng chloroform thể hiện hoạt tính độc tế bào mạnh mẽ khi đánh giá trên các dòng tế bào ung thư khác nhau, bao gồm tế bào bạch cầu lympho P-388, tế bào ung thư vòm họng, tế bào ung thư lấy từ các mô sacom sợi, phổi, ruột, u sarcoma, hắc sắc tố và ung thư vú.
  • Hai hoạt chất chính là rotenone và hydroxyrotenone cho thấy tác dụng độc tế bào mạnh với nồng độ hiệu quả cực thấp ED50 = 0,01 – 0,3 µg/ml. Các thành phần khác trong dược liệu biểu hiện tác dụng yếu hơn với ED50 = 8 – 50 µg/ml.
Xem thêm:  Lá giang là gì? Đặc điểm, lợi ích, bài thuốc và lưu ý khi dùng

Tác dụng diệt côn trùng:

  • Dịch chiết nước từ hạt, hoạt chất rotenone và các dẫn chất của nó đều sở hữu khả năng diệt côn trùng mạnh mẽ.

Liều dùng và cách dùng Củ đậu

  • Rễ củ đậu vì không có độc tính nên có thể áp dụng liều lượng cao trong sử dụng lâm sàng.

Bài thuốc kinh nghiệm

Thuốc phun trừ sâu hại cây (sâu rau, sâu tơ, rệp rau, rệp thuốc lá, rệp bông, rầy bông, rầy lúa, bọ nhảy):

  • Để chế tạo dung dịch phun trừ rệp rau và rệp thuốc lá, cần ngâm hạt củ đậu trong nước suốt một đêm, sau đó giã nát thành bột nhỏ, pha thêm nước theo tỷ lệ 1,5% – 2% hoặc 4%, khuấy trộn đều đặn. Dung dịch này được phun đều lên toàn bộ mặt trên mặt dưới lá các cây bông, cây rau, cây thuốc lá trong điều kiện ngoài trời. Trong khoảng thời gian 24 giờ đến 36 giờ sau phun, rệp và nhện đỏ sẽ chết hết hoặc gần hết (hiệu quả 90 – 100%).

Chữa ghẻ, lở loét da lâu ngày:

  • Hạt củ đậu được giã nát mịn, nấu cùng với dầu vừng, để hỗn hợp nguội đi rồi bôi đều lên vùng da bị bệnh hàng ngày. Có thể kết hợp thêm quả bồ hòn, hạt máu chó với lượng tùy theo tình trạng bệnh nhân; ngoài ra, dùng lá củ đậu giã nát rồi xát trực tiếp vào một số vị trí ghẻ cũng mang lại hiệu quả tương đương.

Lưu ý khi dùng Củ đậu

  • Khi khai thác hạt và lá của củ đậu để chế biến thành thuốc trừ sâu hoặc các bài thuốc dùng ngoài nhân thể, cần phải cẩn thận cao độ và tránh tình trạng nhiễm độc từ các hoạt chất độc tính của dược liệu.

Nguồn tham khảo

https://tracuuduoclieu.vn/cu-dau.html

Đỗ Huy Bích và cộng sự (2006), Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam, tập I, Trang 548 – 550.

Đỗ Tất Lợi (2014) Những Cây thuốc và Vị thuốc Việt Nam. Trang 316 – 317.

Bài viết này có hữu ích không?
0Không0