Càng cua là dược liệu có tính hàn, vị chua cay, hỗ trợ bổ âm, dưỡng huyết, tiêu độc và thanh nhiệt. Công dụng của Càng cua bao gồm tán ứ, chỉ thống, thông ứ đạo, giảm đau, lợi tiểu tiện, đại tiện, giúp phòng ngừa xơ vữa động mạch, tăng cường hệ miễn dịch và hỗ trợ điều trị loãng xương.
Tìm hiểu chung về Càng cua
Tên gọi, danh pháp
- Tên tiếng Việt: Càng cua.
- Tên gọi phổ biến khác: Rau càng cua, Rau tiêu, Đơn kim, Đơn buốt, Cúc áo, Quỷ châm thảo, Thích châm thảo, Tiểu quỷ châm, Cương hoa thảo.
- Tên khoa học: Peperomia pellucida.
Đặc điểm tự nhiên
- Càng cua là cây thảo thân mềm, hoàn thành vòng đời trong khoảng một năm. Chiều cao thân cây thường dao động từ 20 đến 40 cm, với đặc điểm thân chứa độ ẩm cao, có tính chất hơi nhớt, bề mặt nhẵn mịn, phân cành đều đặn, trong suốt và mang sắc xanh lá nhạt. Thân có hình trụ tròn, màu không có sắc tố, suốt, đường kính khoảng 5 – 7 mm; ban đầu thân mọc thẳng đứng nhưng sau đó có xu hướng rủ xuống và bò sát mặt đất. Rễ mọc ra từ các nút thắng cây, khoảng cách giữa các đốt thường nằm trong khoảng 3 đến 8 cm, bề mặt trơn láng, hệ rễ nông không sâu vào đất, có cấu trúc xơ sợi.
- Lá sắp xếp so le trên thân, có cuống lá. Phiến lá mỏng màng, sắc xanh trong suốt, hình dáng tam giác xoan hay hình tim ở phần gốc, chóp lá hơi tù và nhọn, kích thước dài 15 – 20 mm, độ rộng gần bằng với chiều dài đài hoa.
- Hoa mọc thành các chùm dài ở đỉnh cây, sắp xếp thành bông dạng sợi có cuống ở phần ngọn, chiều dài gấp 2 – 3 lần so với kích thước lá.
- Quả có tính chất mọng nước, hình cầu với đường kính khoảng 0,5 mm, sở hữu mũi nhọn cứng ngắn ở đỉnh quả.
Phân bố, thu hái, chế biến
- Càng cua mọc tự nhiên hoặc được con người trồng nhân tạo. Loài cây này thường được tìm thấy bám trên các bề mặt tường cũ, mái nhà, các khu đất hoang quanh các làng bản, trong những chậu cây cảnh, hoặc những nơi có độ ẩm cao. Thuộc nhóm cây thân cỏ, càng cua yêu cầu môi trường ẩm ướt với đất ẩm thấp, mọc dọc theo vách tường, chân tường, bờ kênh rạch hoặc trên các khối đá; kỳ ra hoa thường xảy ra vào tháng một hoặc tháng tám âm lịch, cây thể hiện sức sống mạnh mẽ. Hạt của cây có kích thước nhỏ nên dễ dàng phân tán và lan truyền đến các địa điểm xa, và khi gặp điều kiện sinh trưởng thích hợp sẽ nhanh chóng nảy mầm và phát triển rộng rãi. Cây mọc tự nhiên có sức sống tốt hơn sau những đợt mưa lớn, xuất hiện ở khắp các bờ ruộng, vườn chuối, góc ao, bụi bầu và những nơi có độ ẩm đất cao. Phân bố của loài này khá rộng rãi trên toàn lãnh thổ Việt Nam. Càng cua được trồng nhân tạo chủ yếu ở các tỉnh Lào Cai, Hà Giang. Loài này ban đầu được nhập vào Việt Nam nhưng nay đã trở thành cây hoang hóa phổ biến khắp các vùng. Ngoài Việt Nam, dược liệu còn phân bố ở Trung Quốc, các quốc gia nhiệt đới khác ở châu Á, châu Phi và châu Mỹ. Mùa ra hoa và kết quả thường kéo dài từ tháng một đến tháng năm.
Bộ phận sử dụng
- Phần sử dụng trong lâm sàng là toàn bộ phần trên mặt đất của cây – Herba Peperomiae Pellucidae.
Thành phần hóa học
- Peperomia pellucida (rau càng cua) chứa đa dạng các phytohoá chất có hoạt tính sinh học. Phân tích phytochemical đã xác định sự có mặt của các alcaloides, cardenolides, saponines và tanins — những hợp chất được đánh giá có vai trò trong các tác dụng dược lý của dược liệu; ngược lại, anthraquinones không được phát hiện trong thành phần này.
- Ngoài các phytohoá chất, rau càng cua còn giàu nước và chứa nhiều chất dinh dưỡng thiết yếu bao gồm khoáng chất (P, Ca, K, Mg, Fe) cùng các vitamin như carotenoid và vitamin C, góp phần vào giá trị nuôi dưỡng tổng thể của dược liệu.
- Theo phân tích định lượng, trong mỗi 100g rau càng cua tươi chứa khoảng 277mg kali, 224mg canxi, 62mg magiê và 5,2mg vitamin C — những chỉ số dinh dưỡng này phản ánh mật độ cao các chất khoáng và vitamin quan trọng.
Công dụng của Càng cua
Theo y học cổ truyền
- Trong y học cổ truyền, rau càng cua được ghi nhận có khả năng tán ứ và chỉ thống hiệu quả.
- Dược liệu này sở hữu tính hàn, vị chua cay, phát huy tác dụng bổ âm, dưỡng huyết, tiêu độc và thanh nhiệt, thông ứ đạo, chỉ giảm đau, đồng thời lợi thông cả tiểu便 và đại便. Theo kinh nghiệm dân gian, rau càng cua thường được vận dụng trong điều trị phế nhiệt, khát nước miệng khô, các chứng huyết nhiệt biểu hiện qua lở loét da và mụn nhọt kèm theo cơ xương khớp đau nhức do phong nhiệt gây ra.
Theo y học hiện đại
Chế biến thành món ăn bổ dưỡng
- Thành phần cấu tạo của rau càng cua rất phong phú, chứa hàm lượng nước cao cùng nhiều chất khoáng và vitamin như P, Ca, K, Mg, Fe, carotenoid, vitamin C. Về đặc điểm cảm quan, rau có hương vị đa dạng kết hợp mặn, ngọt, chua xen lẫn với độ giòn dai đặc trưng. Đây là loại rau có giá trị dinh dưỡng cao, đáng chú ý là hàm lượng beta-caroten (tiền thân vitamin A) dồi dào, cùng với hàm lượng sắt, kali, magiê đáng kể và vitamin C, carotenoid phong phú. Về cấu thành dinh dưỡng, rau càng cua có tỷ lệ nước chiếm 92%, nhờ đó tạo cảm giác mát lạnh khi tiêu thụ và phát huy tác dụng thanh nhiệt rõ rệt. Phần còn lại 8% là tập hợp các vitamin và chất khoáng thiết yếu. Khi phân tích trên mẫu 100g rau càng cua, các giá trị dinh dưỡng ghi nhận được bao gồm khoảng 277mg kali, 224mg canxi, 62mg magiê, 5,2mg vitamin C. Tiêu thụ khoảng 100g rau này có nghĩa là cung cấp cho cơ thể xấp xỉ 24 calori. Theo kinh nghiệm dân gian, để đạt tác dụng liệu pháp tối ưu nên tiêu thụ cả hoa và quả của dây cây. Tuy nhiên cần lưu ý rằng rau càng cua không phù hợp cho những đối tượng có tiền sử sỏi thận.
Tác dụng tốt cho tim mạch và huyết áp
- Rau càng cua hỗ trợ nâng cao khả năng kháng bệnh và tăng cường hệ miễn dịch, đồng thời giúp phòng ngừa xơ vữa động mạch, các tổn thương mắt, làm tăng độ săn chắc của cơ bắp, tăng tốc độ lành vết thương, loại bỏ nhiệt độc tích tụ, dự phòng còi xương ở lứa tuổi trẻ và loãng xương ở người cao tuổi, cũng như giúp ích cho người thiếu máu thiếu sắc. Nhờ hàm lượng kali và magiê dồi dào, rau này có tiềm năng phòng chống các bệnh lý liên quan tim mạch, tăng huyết áp, đái tháo đường. Các chuyên gia khuyến cáo tiêu thụ khoảng 100g rau càng cua mỗi ngày nhằm đáp ứng nhu cầu vitamin C hằng ngày ở người trưởng thành là 50mg.
Tác dụng trong điều trị loãng xương
- Loãng xương là bệnh lý liên quan đến rối loạn trong quá trình chuyển hóa mô xương, dẫn đến tăng nguy cơ gãy xương và ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng cuộc sống hàng ngày. Tại Việt Nam, các nhà khoa học đã tiến hành các công trình nghiên cứu khảo sát hiệu quả của cao chiết cồn từ rau càng cua trên mô hình thử nghiệm loãng xương được cảm ứng trên chuột nhắt trắng bằng prednison.
- Kết quả nghiên cứu cho thấy khi sử dụng cao chiết cồn 96% từ rau càng cua ở liều 0,85 g/kg, có thể phục hồi tình trạng suy giảm chất lượng xương do prednison gây ra, thể hiện qua sự gia tăng khối lượng xương, mật độ khoáng xương, cùng với nâng cao hàm lượng canxi và phospho tích tụ trong xương. Ngoài ra, cao rau càng cua ở liều 0,85 g/kg còn thúc đẩy quá trình tạo xương thông qua tăng cường marker sinh hóa osteocalcin liên quan trực tiếp đến hoạt động xương hóa.
Tác dụng khác
- Trong thực hành dân gian, người ta thường sử dụng toàn bộ cây trừ phần rễ để chế biến thành rau ăn sống hoặc nấu canh.
- Ở khu vực Giava, phương pháp truyền thống là nghiền lá thành bột để b敷 trên da nhằm trị sốt rét và đau đầu. Dịch lấy từ lá được dùng uống để điều trị đau bụng.
- Ở Trung Quốc, toàn cây càng cua được khai thác làm nguyên liệu thuốc đòn ngã để chữa bỏng do lửa, ung sang thũng độc.
Liều dùng và cách dùng Càng cua
- Hiện tại không có liều lượng và phương pháp dùng tiêu chuẩn được ghi nhận trong tài liệu y học cổ truyền chính thức.
Bài thuốc kinh nghiệm
Chữa viêm họng, khô cổ khản tiếng:
- Lấy 50 – 100g rau càng cua sau khi rửa kỹ, có thể nhai ngậm trực tiếp hoặc xay thành nước và uống. Tiếp tục sử dụng trong khoảng thời gian 3 – 5 ngày liên tục.
Hỗ trợ điều trị đái tháo đường kèm theo chứng miệng khô khát, táo bón:
- Rau càng cua 100g được rửa sạch sau đó bóp với giấm và chanh, kết hợp cùng thịt ếch đã chiên bột 100g, ăn vài lần trong tuần.
Chữa thiếu máu:
- Chuẩn bị 100g rau càng cua sau khi rửa kỹ, bóp với giấm và xào cùng thịt bò nấu vừa chín, trộn đều và dùng một số lần.
Chữa tiểu gắt, tiểu khó:
- Dùng 150 – 200g rau càng cua ăn tươi sống hoặc sắc thành nước uống, kéo dài trong khoảng 5 ngày.
Chữa đau lưng cơ co rút (do nhiệt độc xâm nhập kinh thận):
- Sắc nước từ 50 – 100g rau càng cua mỗi ngày và uống đều đặn.
Chữa nhiễm khuẩn vùng đầu ngón tay (chín mé):
- Sắc 100 – 150g rau càng cua để uống nội, đồng thời lấy bã thuốc sau sắc ngoài để đắp trực tiếp lên vùng bị nhiễm.
Chữa ngoài da khô sần, mụn nhọt lở ngứa, vết thương chậm lành:
- Rau càng cua có thể ăn tươi trực tiếp, xay thành nước để uống, hoặc giã nát rồi đắp ngoài da.
Lưu ý khi dùng Càng cua
- Rau càng cua tích tụ prostaglandin tổng hợp — những acid béo không bão hòa phân bố trong các mô, đóng vai trò là phân tử trung gian hóa học trong quá trình phát triển viêm và dẫn truyền cảm giác đau, từ đó có khả năng can thiệp vào các phản ứng sinh lý ở từng mô riêng lẻ.
- Một số đối tượng có độ nhạy cảm cao với mùi vị của rau càng cua sẽ cảm nhận mùi mù tạt đặc trưng khi tiêu thụ, và trong những trường hợp như vậy có thể xuất hiện các triệu chứng như hen suyễn.
Nguồn tham khảo
Từ điển cây thuốc Việt nam – Võ Văn Chi.
Tra cứu dược liệu: https://tracuuduoclieu.vn/cang-cua.html

