Ổi là một loại cây thuốc quý, chứa nhiều giá trị dinh dưỡng và lợi ích cho sức khỏe. Với thành phần hóa học phong phú, ổi được sử dụng để điều trị nhiều bệnh như tiêu chảy, viêm ruột, kiết lỵ, và đau răng. Ngoài ra, ổi còn có tác dụng cầm máu, tiêu viêm, và tăng cường hệ miễn dịch. Bài viết sẽ cung cấp thông tin chi tiết về công dụng, cách dùng, và liều dùng của ổi, giúp bạn hiểu rõ hơn về loại cây thuốc này.
Tìm hiểu chung về Ổi
Tên gọi, danh pháp
- Tên Việt: Ổi, Phan thạch lựu, Là ủi, Mù úi piểu, Mác ổi.
- Danh pháp khoa học: Psidium guajava L., thuộc họ Sim (Myrtaceae).
Đặc điểm tự nhiên
- Ổi là loài cây nhỡ có chiều cao trưởng thành từ 5 đến 10 m. Vỏ cây nhẵn mịn và mỏng; khi già, vỏ bong tróc thành những mảng rộng. Cành non thường có hình vuông cạnh, mặt toàn bộ phủ lông mềm; sau khi trưởng thành, cành chuyển thành hình trụ và mặt trơn láng.
- Lá mọc đối xứng với cuống lá ngắn, dáng lá thuôn hoặc hình xoan, phần gốc tù hay gần tròn, gân lá lồi nổi ở mặt dưới. Mặt trên lá nhẵn hoặc có lông hơi mịn, mặt dưới phủ lông tinh tế. Quan sát phiến lá dưới ánh sáng sẽ phát hiện các túi tinh dầu nằm sâu bên trong mô lá.
- Hoa ổi có màu trắng tinh khôi, mọc độc lập ở các kẽ lá hoặc tập hợp 2–3 bông thành chùm tại nách lá.
- Quả ổi có dáng cầu hoặc hình thay đổi tùy theo giống loại, phần đỉnh quả mọng nổi. Đài hoa vẫn tồn tại trên bề mặt quả, để lại sẹo rõ rệt ở phần đỉnh. Bên trong quả chứa rất nhiều hạt dạng bầu dục, mầu hơi hung, hình thân không đều.
Phân bố, thu hái, chế biến
- Ổi có xuất xứ từ Trung Mỹ (Brazil), thích nghi tốt với những vùng khí hậu ẩm ướt. Loài cây này đã được đưa vào trồng rộng rãi ở nhiều địa phương trong nước và trên toàn thế giới. Từ một cây trồng chủ ý, ổi hiện nay cũng tự phát tán hoang dại từ các vùng thấp cho đến các vùng cao. Chu kỳ ra hoa và kết quả của ổi diễn ra gần như liên tục suốt cả năm.
Bộ phận sử dụng
- Các bộ phận được khai thác từ cây ổi bao gồm: Lá, quả và vỏ thân cây.
Thành phần hóa học
- Lá ổi tích tụ tinh dầu với hàm lượng 0,31%, thành phần chính là dl-limonen. Ngoài ra, lá còn chứa β-sitosterol, acid maslinic (acid cratagolic), acid guijavalic, cùng với các flavonoid như morin flavonol, morin-3-O-lyxoside, morin-3-O-arabinoside, quercetin và quercetin-3-O-arabinoside.
- Búp non và lá ổi tích lũy 7–10% tanin pyrogalic, khoảng 3% nhựa, cùng với acid psiditanic, acid tritecpenic và tinh dầu.
- Nhựa từ cây ổi bao gồm acid d-galacturonic (72,03%), d-galactose (12,05%) và l-arabinose (4,40%).
- Cây và quả ổi là nguồn dồi dào pectin và vitamin C; hạt ổi chứa tinh dầu với nồng độ cao hơn so với lá. Vỏ thân cây tích tụ acid ellagic.
Công dụng của Ổi
Theo y học cổ truyền
- Trong y học cổ truyền, ổi được ghi nhận có vị ngọt và chát, tính bình, với tác dụng cầm tiêu chảy, tiêu viêm và cầm máu. Vỏ quả và lá ổi mang vị chát đặc trưng. Do chứa hàm lượng tanin cao, các bộ phận này có khả năng làm chắc chắn niêm mạc ruột, ức chế tiết dịch ruột, giảm tính co bóp ruột, đồng thời thể hiện hoạt tính ức chế vi khuẩn. Theo kinh nghiệm dân gian qua nhiều thế kỷ, ổi đã được các nền y học truyền thống ở Trung Mỹ, Caribe, Châu Phi và Châu Á áp dụng để điều trị viêm ruột cấp, kiết lỵ, khó tiêu, tiểu đường, tăng huyết áp, sâu răng, tăng tốc độ lành vết thương, giảm đau và sốt, tiêu chảy, thấp khớp, bệnh phổi cũng như loét.
Theo y học hiện đại
- Các công trình nghiên cứu lâm sàng hiện nay chứng thực rằng ổi được sử dụng phổ biến trong điều trị viêm ruột ở giai đoạn cấp tính và mạn tính, kiết lỵ và tình trạng khó tiêu ở trẻ em; liều dùng khuyến cáo khoảng 15 – 30g dạng nước sắc.
- Lá ổi tươi thường được các thầy thuốc dân gian vận dụng để trị chấn thương tổn thương mô mềm, vết thương chảy máu và vết loét da. Cộng đồng nhân dân thường khai thác lá và quả ổi để điều trị ỉa chảy và đau bụng kèm theo đi ngoài. Ngoài ra, lá, búp non ổi còn được ghi nhận có hiệu quả trong điều trị bệnh zona (còn gọi là bệnh giời leo do các mụn nước hình thành thành cụm, thường tập trung vùng ngực và lưng).
- Trong thực hành y học Ấn Độ, vỏ rễ được dùng để kiểm soát tiêu chảy ở trẻ nhỏ; quả được khai thác như thuốc nhuận tràng; lá được ứng dụng chữa vết thương và loét; nước sắc từ lá được sử dụng để cầm chảy máu tả, nôn mửa và ỉa chảy.
- Theo kinh nghiệm y học tại Vân Nam (Trung Quốc), lá ổi được chọn làm thuốc thu liễm ức chế tả và tiêu viêm cầm máu. Quả được áp dụng điều trị tích thực ở trẻ em. Vỏ thân được dùng kháng khuẩn lỵ và viêm ruột. Khi dùng ngoài, dược liệu được giã nát đắp trên vùng đòn ngã tổn thương, rửa sạch lở ngứa ngoài da và eczema.
Liều dùng và cách dùng Ổi
- Các bộ phận của ổi gồm lá, quả và vỏ thân có thể được sử dụng ở dạng tươi nguyên chất hoặc sau khi phơi khô. Phương pháp sử dụng bao gồm sắc nước từ các bộ phận này với liều 15 – 30g để uống, hoặc đắp ngoài da mà không cần tuân theo liều lượng cụ thể.
Bài thuốc kinh nghiệm
Trị ỉa chảy:
- Bài thuốc 1: Lựa chọn lá ổi ở giai đoạn phát triển trung bình (vừa non vừa già), khối lượng khoảng 50g, đem vào nồi sắc bằng phương pháp nung lửa nhỏ đều đặn trong khoảng 15 – 30 phút với hai bát nước. Sau khi sắc xong, để nước thuốc nguội đến nhiệt độ ấm vừa phải rồi chiết lấy dịch, chia thành nhiều liều uống từng chén nhỏ. Tùy chọn có thể bổ sung đường để tăng vị.
- Bài thuốc 2: Chuẩn bị búp ổi 12g, tô mộc 8g, vỏ ổi 8g, gừng tươi 2g. Đem toàn bộ vào nồi sắc với 200ml nước cho đến khi thể tích cô lại còn một nửa, dùng một lần mỗi ngày.
- Bài thuốc 3: Kết hợp búp ổi 20g, búp hay nụ sim 12g, búp vối 12g, gừng tươi 12g, hạt cau già 12g, rốn chuối tiêu 12g, búp chè 12g. Sắc các dược liệu này cho đến khi nước thuốc đặc đặc, sử dụng khi vẫn còn nóng.
Bệnh zona:
Rửa sạch 100g lá búp ổi non, chuẩn bị phèn chua 10g và muối 1g. Cho tất cả vào cối giã, thêm một lượng nước vừa đủ rồi giã nhỏ. Sử dụng nước thuốc này để bôi lên vùng da bị tổn thương. Có thể pha thêm 5 – 6g bột sunfamit để tăng hiệu quả.
Viêm dạ dày ruột cấp:
- Bài thuốc 1: Lá ổi non được sấy khô hoàn toàn rồi tán thành bột mịn. Mỗi liều dùng 6g, hòa tan trong nước sôi ấm, uống 2 lần mỗi ngày.
- Bài thuốc 2: Thái nhỏ 30g lá ổi rồi rang chung với một nhúm gạo, sau đó đổ nước sôi và uống, tần suất 2 lần trong ngày.
- Bài thuốc 3: Rang lá ổi kết hợp với gừng tươi 6 – 9g và muối ăn trên chảo nóng sao đến khi chín vàng, sau đó sắc lấy nước uống hàng ngày.
Chữa cửu lỵ:
Sắc chung 30 – 60g ổi tươi với 2 – 3 quả ổi khô, dùng 1 thăng nước, nung lửa nhỏ cho đến khi thể tích cô còn ½ thăng. Dùng một thang mỗi ngày.
Chữa tiêu hóa cho trẻ em trên 1 tuổi:
Chuẩn bị 30g lá ổi, 15 – 30g gạo tẻ, 1 – 12g hồng trà, 30g tây thảo. Sắc toàn bộ với 1 lít nước cho đến khi cô lại còn 500ml, chia thành 2 lần dùng.
Bài thuốc chữa băng huyết:
Sao cháy quả ổi khô rồi tán thành bột. Mỗi lần lấy 9g hòa với nước sôi ấm uống, 2 lần mỗi ngày.
Bài thuốc chữa tiểu đường:
Ép lấy nước từ 250 quả ổi. Chia đều ra 2 lần uống trong ngày. Hoặc thay thế bằng cách ăn khoảng 200g quả ổi tươi mỗi ngày cũng mang lại tác dụng tương đương.
Bài thuốc chữa đau răng:
Sắc vỏ rễ ổi cùng với dấm chua rồi sử dụng để ngậm trong miệng nhiều lần trong ngày.
Bài thuốc chữa sa trực tràng:
Rửa sạch 1 nắm lá ổi tươi rồi sắc kỹ lấy nước để ngâm rửa vùng hậu môn. Kết hợp sắc quả ổi khô uống đồng thời để nâng cao hiệu quả điều trị.
Bài thuốc giải độc ba đậu:
Sắc 10g quả ổi, 10g bạch truật sao hoàng thổ cùng 10g vỏ cây ổi trên lửa nhỏ với 1 bát nước. Cô lấy nửa bát rồi chia thành vài liều uống xen kẽ trong ngày.
Lưu ý khi dùng Ổi
- Hiện tại chưa có ghi chép chi tiết về những cảnh báo hoặc chống chỉ định đặc biệt liên quan đến dược liệu này.
Nguồn tham khảo
Từ điển cây thuốc Việt nam – Võ Văn Chi.
Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi.
Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam (Tập 1).
https://www.thuocdantoc.org/duoc-lieu/cay-oi

