Ô rô nước: Tìm hiểu công dụng, cách dùng và những lưu ý khi dùng

bởi thuvienbenh

Ô rô nước là một loại cây thảo dược có nhiều công dụng, bao gồm lợi tiểu, tiêu viêm và hỗ trợ long đờm. Theo y học cổ truyền, rễ ô rô nước có vị mặn chua và tính hàn, giúp bảo vệ gan và chức năng gan. Ngoài ra, cây ô rô nước còn được sử dụng để trị các bệnh đường ruột, đau lưng nhức mỏi và hen suyễn. Bài viết sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về công dụng, cách dùng và lưu ý khi sử dụng ô rô nước.

Tìm hiểu chung về Ô rô nước

Tên gọi, danh pháp

  • Tên gọi Việt: Ô rô to, Ô rô gai, Lão thử cân, Ô rô nước.
  • Danh pháp khoa học: Acanthus ilicifolius L., thuộc họ Ô rô – Acanthaceae.

Đặc điểm tự nhiên

  • Ô rô nước là cây thảo dược có chiều cao từ 0,5 – 1,5 cm. Thân cây mang sắc xanh lục, hình dạng hình trụ tròn, bề mặt ghi rõ các rãnh chạy dọc theo thân. Lá không có cuống, mọc sát sao trên thân theo kiểu đối xứng. Phiến lá có độ cứng cao, mép lá mang hình răng cưa không đều đặn, lượn sóng và có các gai nhọn nổi bật.
  • Hoa của cây sắp xếp thành cụm 4 dây, mang sắc trắng hoặc xanh lam. Quả mang màu nâu bóng, hình dạng bầu dục đặc trưng. Bên trong quả chứa 4 hạt dẹp, được bao phủ bởi lớp vỏ trắng xốp.

Phân bố, thu hái, chế biến

  • Ô rô nước phân bố rộng rãi ở Đông Nam Á và khu vực Đông Dương (bao gồm Ấn Độ, Trung Quốc, Sri Lanka, Thái Lan, Nuven Calêđôni cho đến Ôxtrâylia). Cây thường sinh trưởng ở các sinh cảnh ven sông, vùng ven biển có nước lợ với rễ ngâm trong nước; cũng có thể mọc ở ven suối, ven sông, dọc kênh rạch. Tại Việt Nam, loài này thường gặp ở các vùng ven biển và ven sông suối (như Hòa Bình, Ninh Bình).
  • Chu kỳ hoa quả của cây thường diễn ra từ tháng 10 đến tháng 11 hàng năm.

Bộ phận sử dụng

  • Phần cây được khai thác gồm lá, búp non, rễ hoặc toàn bộ cây tùy theo mục đích ứng dụng. Cộng đồng dân cư thu hái cây ô rô nước trong suốt năm. Sau khi thu hoạch, dược liệu được phơi khô; đối với rễ, cần rửa sạch, cắt thành phiến mỏng, sau đó phơi khô để bảo quản và sử dụng.

Thành phần hóa học

  • Cây ô rô nước chứa thành phần alcaloid phân bố trong các mô khác nhau. Phần lá tích tụ nhiều chất nhờn; từ lá, các nhà nghiên cứu đã phân lập và xác định cấu trúc của 5 hợp chất gồm blepharin, acteoside, isoverbascoside, daucosterol và 3-O-D-glucopyranosyl-stigmasterol. Một số nguồn tài liệu bổ sung thông tin rằng cây cũng chứa alcaloid, trong khi phần rễ tích tụ tanin; kể từ năm 1981, các chuyên gia đã tách lập được từ rễ một hợp chất triterpenoidal saponin được gọi là α-L-arabinofuranosyl-({1?4}- β – D-glucuronopyranosyl ({1?3}) – 3β- hydroxyl – lup-20(29)-ene.
Xem thêm:  Mầm đậu xanh: Công dụng, cách dùng, liều dùng và lưu ý quan trọng

Công dụng của Ô rô nước

Theo y học cổ truyền

  • Trong hệ thống y học cổ truyền, rễ ô rô nước được ghi nhận có vị mặn chua với chút đắng, tính hàn; mang lại hiệu quả lợi tiểu, tiêu viêm và hỗ trợ long đờm hiệu quả. Toàn bộ cây ô rô nước thể hiện vị hơi mặn, tính mát, phát huy tác dụng hoà tan máu ứ, tiêu sưng, giảm đau, tiêu đờm cũng như hạ khí.

Theo y học hiện đại

  • Tác dụng bảo vệ gan và chức năng gan: Các chiết xuất từ rượu ở nồng độ cao của ô rô nước thể hiện khả năng bảo vệ rõ rệt đối với chức năng gan và mô gan. Tuy nhiên, theo kết quả nghiên cứu gần đây, ô rô nước không có khả năng ức chế quá trình nhân lên của virus viêm gan B ở vịt. Các alkaloid được tách lập từ dược liệu này gồm 4-hydroxy-2-benzoxazolone, 4-acetoxy-2-benzoxazolone và 3-acetyl-4-acetoxy-2-benzoxazolone đã được chứng minh có lợi trong điều trị xơ gan, với cơ chế tác động dự kiến liên quan đến việc ức chế các phản ứng viêm. Theo ghi nhận từ cộng đồng dân gian Cà Mau, nước nấu từ đọt ô rô kết hợp với vỏ quả lá quao vẫn được sử dụng để trị đau gan.
  • Tác dụng đối với bệnh đường ruột: Các hợp chất chiết xuất từ lá cây ô rô nước có khả năng thể hiện hoạt động chống loét và ức chế viêm trong các bệnh lý dạ dày. Tại Việt Nam, nhân dân sử dụng rễ và lá ô rô nước kết hợp trong ăn trầu đồng thời vận dụng để chữa trị các bệnh đường ruột. Ở Quảng Tây (Trung Quốc), rễ và lá ô rô nước được các thầy thuốc địa phương áp dụng để trị viêm gan, gan lách sưng to, u ác tính, hen suyễn và đau dạ dày.
  • Các tác dụng khác: Những hợp chất được phân lập từ lá ô rô nước thể hiện các hoạt động chống virus cúm. Toàn cây thường được sử dụng trong thực hành lâm sàng dân gian để trị đau lưng nhức mỏi, tê bại, ho đờm, hen suyễn. Rễ và lá còn được vận dụng để trị phù, tiểu buốt, tiểu dắt, chữa thấp khớp. Dược liệu này phát huy tác dụng lợi tiểu, tiêu viêm và long đờm; có vị hơi mặn, tính mát, tác dụng hoà tan máu ứ, tiêu sưng, giảm đau cũng như tiêu đờm.

Liều dùng và cách dùng Ô rô nước

  • Ở Quảng Tây (Trung Quốc), rễ ô rô nước được các chuyên gia y học cổ truyền địa phương áp dụng để trị các bệnh lý viêm gan, gan lách sưng to, u ác tính, hen suyễn cũng như đau dạ dày.
  • Liều lượng khuyến cáo: 30 – 60g.

Bài thuốc kinh nghiệm

1. Long đờm: Lấy 60 – 120g thịt lợn nạc kết hợp với 30 – 120g ô rô nước, sắc cùng với 500g nước trong thời gian 6 giờ cho tới khi còn một chén, chia thành hai lần uống trong ngày.

Xem thêm:  Đại Sài Hồ Thang: Bài Thuốc Cổ Truyền Điều Hòa Can Tỳ Hiệu Quả

2. Gan lách sưng to: Kết hợp 12g thóc lép (Desmodium pulchellum), 15g liên kiều, 30g ô rô nước nấu dưới dạng nước uống. Tiếp tục điều trị cho tới khi triệu chứng cải thiện rõ rệt.

3. Tràng nhạc và bệnh hạch bạch huyết: Dùng 19g mỏ quả, 30g ô rô nước, 13g thóc lép sắc để lấy nước uống.

Lưu ý khi dùng Ô rô nước

  • Hiện chưa có thông tin chống chỉ định hoặc cảnh báo sử dụng cụ thể đối với dược liệu này.

Nguồn tham khảo

Từ điển cây thuốc Việt nam – Võ Văn Chi.

Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi.

Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam (Tập 1).

https://tracuuduoclieu.vn/acanthus-ilicifolius-l.html

Bài viết này có hữu ích không?
0Không0