Lý gai: Công dụng trị chứng tiểu tiện vàng, cách dùng và lưu ý

bởi thuvienbenh

Lý gai là cây thuốc quý, có công dụng trị chứng tiểu tiện vàng, cảm cúm, đau họng, và nhiều bệnh lý khác. Với thành phần hóa học giàu tannin, vitamin C, và các hợp chất khác, Lý gai được ứng dụng rộng rãi trong y học cổ truyền và hiện đại. Bài viết sẽ giới thiệu về công dụng, cách dùng, và lưu ý khi sử dụng dược liệu này.

Tìm hiểu chung về Lý gai

Tên gọi, danh pháp

  • Tên tiếng Việt: Lý gai (quả).
  • Tên gọi phổ biến khác: Me rừng, Chùm ruột núi, Mận rừng, Cam lam, Trám rừng, Chùm ruột rừng, Me quả tròn, Mắc kham, Mạy kham (gọi theo cách của người Tày), Diều cam (theo danh xưng của người Dao), Xi xa liên (tên gọi của người Kho). Các vùng khác còn biết đến với tên me mận. Ở Lào, tên gọi mak kham được sử dụng rộng rãi; trong khi đó tại Ấn Độ và Nê Pan, danh từ aamla là thông dụng nhất (xuất phát từ từ amalika trong tiếng Phạn), hoặc Dhatrik trong tiếng Maithili.
  • Danh pháp khoa học: Phyllanthus emblica L. Thuộc họ Euphorbiaceae.

Đặc điểm tự nhiên

  • Loài thực vật này được mô tả và phân loại khoa học lần đầu tiên vào năm 1753. Quả của cây được người Ấn Độ và Nê Pan gọi là aamla. Các tác dụng ghi nhận bao gồm: nước ăn chân, sưng yết hầu, cảm mạo, sốt, đái đường (từ quả), và chữa vết rắn cắn (từ vỏ thân).
  • Cây lý gai là cây nhỡ cao 5 – 7 m, thân phân nhánh nhiều, các cành nhỏ có độ mềm dẻo, bề mặt có lông mỏng, chiều dài khoảng 20 cm. Lá sắp xếp đối xứng hai hàng trên các cành nhỏ, hình dạng tương tự như lá kép lông chim, cuống lá rất ngắn. Lá kèm nhỏ bé, hình tam giác.
  • Hoa nhỏ, màu vàng, đơn tính cùng gốc. Các cụm hoa tập trung thành xim co mọc tại nách lá phía dưới cành, chứa nhiều hoa đực và hoa cái. Quả hình cầu, ban đầu mọng nước, sau này khô thành quả nang. Hạt hình tam giác, màu hồng nhạt.
  • Thời kỳ ra hoa kéo dài từ tháng 3 đến tháng 11.

Phân bố, thu hái, chế biến

  • Cây lý gai phân bố rộng rãi trên các đồi trọc, bãi hoang, trong rừng thưa ở Việt Nam. Loài này ưa ánh sáng mạnh, có khả năng chịu đựng tốt điều kiện hạn hán. Ngoài ra, cây lý gai còn xuất hiện ở nhiều quốc gia vùng nhiệt đới châu Á như Trung Quốc (các tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây, Vân Nam) và Ấn Độ. Tại Việt Nam, cây được ghi nhận phân bố ở các tỉnh Lào Cai, Hà Giang, Tuyên Quang, Sơn La, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Đắk Lắk, Lâm Đồng và các vùng khác. Cây có tính chịu hạn, mọc tự nhiên ở các thảm cây bụi dưới rừng thưa rụng lá, đồi trọc, trên nền đất sa phiến thạch ở độ cao 100 – 500 m.
  • Các bộ phận quả, rễ và lá của cây lý gai được khai thác để chế biến thành dược phẩm. Trong lĩnh vực công nghiệp, vỏ thân cây lý gai còn được tận dụng làm nguyên liệu quan trọng để chiết xuất tanin.
  • Rễ cây lý gai được thu hái liên tục quanh năm, sau đó đào lên, rửa sạch đất cát, rồi phơi nắng hoặc sấy khô bảo quản. Quả lý gai được thu hái vào mùa thu, loại bỏ độ ẩm dư thừa, sau đó phơi nắng hoặc sấy khô.
Xem thêm:  Đương Quy: Vị Thuốc Quý Trong Đông Y

Bộ phận sử dụng

  • Các bộ phận được tận dụng từ cây lý gai gồm quả, lá, vỏ thân và rễ – ký hiệu trong y học cổ truyền là Fructus, Folium, Cortex et Radix Phyllanthi Emblicae.

Thành phần hóa học

  • Quả lý gai tích tụ một lượng đáng kể tannin, chiếm xấp xỉ 45% khối lượng khô. Khi quả còn ở giai đoạn xanh non, hàm lượng tannin giảm xuống khoảng 30 – 35% (Trung Quốc kinh tế thực vật chí, 1961, 1178). Các hợp chất tannin được xác định gồm axit chebulinic C11H32027, axit chebulagic C41H30027, corilagin C27H22018, terchebin C41H30O26, axit chebulic C14H14O11, axit galic (5%), và axit ellagic (C. A., 1966, 64, 3961 d).
  • Ngoài nhóm tannin, quả còn chứa axit phyllemblic C16H28017(COOH)8 (6,3%), emblicol C20H30O19(OCH3)6 (C. A., 1959, 53, 5416), axit muxic C6H10O8 (C.A., 1962, 56, 15830 C), các lipid, và hàm lượng vitamin C rất cao (1 – 1,8g/100g) (C. A., 1961, 55, 4815 d). Lý gai rừng được công nhận là nguồn cung cấp vitamin C tự nhiên quý giá; trong lớp vỏ quả, vitamin C tập trung với tỉ lệ 70 – 72%. Đồng thời quả còn chứa axit muric. Ở dạng quả khô, hàm lượng tannin và phức hợp keo được bảo toàn, với axit phyllemblic là thành phần chính. Hạt chứa dầu cố định, phosphatid và tinh dầu.
  • Lá lý gai tích lũy tannin ở mức cao (lá non 23 – 28%), cùng với kaempferol 3-glucozit (Sumbra-manian S. S. et al., Phytochemistry, 1971, 10, 2549), sitosterol, axit ellagic và lupeol (C. A., 1968, 69, 74455 y).
  • Vỏ thân chứa 28 – 29,36% tannin, 2,25% lupeol, 3,75% d-Leucodelphinidin (C. A., 1958, 52, 20455 b).

Công dụng của Lý gai

Theo y học cổ truyền

  • Các tài liệu y học cổ đặc biệt là "Đường bản thảo" và "Nam phương thảo mộc trạng" đã ghi chép chi tiết về công năng của từng bộ phận: quả có vị chua, ngọt, đắng, tính mát, phát huy tác dụng nhuận phế, hóa đờm, sinh tân chất và chữa khát nước; rễ mang vị đắng, chát, tính mát, có khả năng thu liễm và hạ áp; lá sở hữu vị cay, tính bình, tác dụng chính là lợi tiểu; vỏ cây cũng thể hiện tính thu liễm; hoa mang tính mát, khả năng hạ nhiệt và nhuận tràng.

Theo y học hiện đại

  • Các bộ phận của cây gồm lá, vỏ và quả đều được các nhà nghiên cứu xác định có tiềm năng can thiệp vào các tình trạng bệnh lý như bỏng, ung thư, quá trình lão hóa, và đái tháo đường.

Quả được ứng dụng chữa trị:

  • Cảm cúm phát sốt.
  • Đau vùng họng, đau nha chu, cảm giác khô miệng kèm theo khát nước.
  • Đái tháo đường.
  • Thiếu hụt vitamin C.

Rễ được ứng dụng chữa trị:

Lá được ứng dụng chữa trị:

  • Phù thũng.
  • Bệnh ngoài da dạng eczema, viêm da, mẩn ngứa.
Xem thêm:  Ô Dược: Vị Thuốc Cổ Truyền Quý Trong Đông Y

Các công dụng bổ trợ khác

  • Những nghiên cứu sơ bộ trong lĩnh vực dược lý hiện đại chỉ ra rằng me mận sở hữu tính kháng khuẩn rõ rệt.
  • Tại Ấn Độ, quả me rừng được coi là nguồn cung cấp vitamin C quý giá, mang tên gọi "myrobalan emblic" trong y học Ayurveda. Ở dạng tươi, nó hoạt động như vị thuốc mát tính, lợi tiểu và nhuận tràng, thường được chế biến thành mứt (kết hợp với đường mật); khi khô, nó được sử dụng chữa lỵ và chứng ỉa chảy; người ta còn phối hợp với sắt để điều trị thiếu máu, vàng da và khó tiêu.
  • Dịch lên men từ quả me rừng được áp dụng chữa vàng da, khó tiêu và ho; bột từ quả me rừng hòa với nước cốt chanh được dùng làm thuốc ngưng lỵ trực khuẩn cấp; dịch tiết ra khi chích quả được dùng đắp ngoài chữa viêm mắt.
  • Hạt me rừng được dùng để can thiệp hen, viêm cuống phổi và thiểu năng mật.
  • Tại Thái Lan, quả được sử dụng làm thuốc long đờm, hạ nhiệt, lợi tiểu, chữa ỉa chảy và phòng chống bệnh scorbut.
  • Vỏ cây ngoài công dụng chữa ỉa chảy thì chủ yếu được khai thác làm nguồn cung cấp chất chát phục vụ ngành công nghiệp thuộc da và nhuộm.

Liều dùng và cách dùng Lý gai

  • Để chữa cảm cúm, phát sốt, ho, đau cổ họng, khô miệng khát nước, cách dùng là lấy 10 – 30 quả mỗi ngày, sắc uống.
  • Đối với viêm đường tiêu hóa, đau bụng kèm theo tiêu chảy, tăng huyết áp: mỗi ngày dùng 15 – 20g rễ, sắc uống.
  • Trong trường hợp lở loét, mẩn ngứa, phương pháp dùng ngoài là lấy lá nấu nước rửa vùng bị ảnh hưởng. Để tắm rửa toàn thân, lấy lượng lá lý gai thích hợp nấu sôi.

Bài thuốc kinh nghiệm

Đái đường:

  • Sắc nóng 15 – 20g quả me rừng đã ướp muối, uống hằng ngày.

Rắn cắn:

  • Giã nát vỏ cây, trộn thêm nước uống; lấy phần bã còn lại đắp vào vết thương.

Nước ăn chân:

  • Giã quả me rừng lấy nước, bôi lên vùng bị ảnh hưởng.

Lưu ý khi dùng Lý gai

  • Hiện chưa có các ghi chép chi tiết về những chống chỉ định hoặc cảnh báo sử dụng đặc biệt đối với dược liệu này.

Nguồn tham khảo

Từ điển cây thuốc Việt nam – Võ Văn Chi.

Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi.

Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam (Tập 1).

https://tracuuduoclieu.vn/phyllanthus-emblica-l.html.

http://www.botanyvn.com/cnt.asp?param=edir&v=Phyllanthus%20emblica&list=species.

Bài viết này có hữu ích không?
0Không0