
Mùa mưa là điều kiện thuận lợi cho sốt rét và sốt xuất huyết phát triển. Dù cùng có triệu chứng sốt cao và đau đầu, đây là hai bệnh lý khác biệt hoàn toàn về nguyên nhân và phác đồ điều trị. Việc nhầm lẫn có thể dẫn đến hậu quả nghiêm trọng. Hiểu rõ bản chất và phân biệt chính xác hai căn bệnh này giúp bạn chủ động thăm khám đúng chuyên khoa và điều trị kịp thời để tránh nguy cơ biến chứng nguy hiểm.
Sốt rét và sốt xuất huyết có khác nhau về nguyên nhân không?
Câu trả lời chắc chắn là Có. Dù đều là những bệnh truyền nhiễm có vật chủ trung gian truyền bệnh là muỗi, nhưng tác nhân vi sinh vật gây bệnh ẩn chứa bên trong tuyến nước bọt của mỗi loại muỗi lại thuộc hai nhóm hoàn toàn khác biệt.
Dù cùng lây qua đường muỗi đốt nhưng sốt rét và sốt xuất huyết có nguyên nhân gốc rễ khác biệt (Nguồn: Sưu tầm)
Sốt rét
- Tác nhân gây bệnh: Sốt rét không phải do virus gây ra mà do một loại ký sinh trùng đơn bào có tên là Plasmodium (gồm các chủng phổ biến như Plasmodium falciparum, Plasmodium vivax, Plasmodium malariae, Plasmodium ovale).
- Vật chủ truyền bệnh: Ký sinh trùng sốt rét được truyền từ người bệnh sang người lành thông qua vết đốt của muỗi đòn xóc thuộc chi Anopheles cái. Loài muỗi này thường sinh sống ở vùng rừng núi, vùng sâu vùng xa, vùng ven biển nước lợ và có tập tính đốt người chủ yếu vào ban đêm (từ lúc mặt trời lặn đến khi mặt trời mọc).
Sốt xuất huyết
- Tác nhân gây bệnh: Sốt xuất huyết là bệnh cấp tính do virus Dengue gây ra. Virus này có 4 chủng huyết thanh ký hiệu là DEN-1, DEN-2, DEN-3 và DEN-4.
- Vật chủ truyền bệnh: Virus Dengue được truyền sang cơ thể người thông qua vết đốt của muỗi vằn thuộc chi Aedes (chủ yếu là loài Aedes aegypti). Khác hoàn toàn với muỗi Anopheles, muỗi vằn sốt xuất huyết là loại muỗi đô thị, thường sống ngay trong nhà hoặc xung quanh các khu dân cư đông đúc. Chúng có thói quen trú ngụ ở những góc tối, quần áo treo trên vách và đặc biệt chỉ thích hoạt động, đốt người vào ban ngày, mạnh nhất là vào sáng sớm và chiều chập choạng tối.
Giai đoạn ủ bệnh và dấu hiệu
Tiến trình từ khi mầm bệnh xâm nhập vào cơ thể cho đến khi phát tán ra các triệu chứng lâm sàng của hai bệnh có sự chênh lệch rất rõ rệt về mặt thời gian và biểu hiện:
Thời gian ủ bệnh
- Sốt xuất huyết: Có thời gian ủ bệnh tương đối ngắn và cố định hơn. Thông thường, sau khi bị muỗi vằn mang virus Dengue đốt, cơ thể người bệnh sẽ trải qua giai đoạn ủ bệnh âm thầm từ 4 đến 7 ngày (dao động tối đa từ 3 đến 14 ngày) trước khi đột ngột phát sốt.
- Sốt rét: Thời gian ủ bệnh của sốt rét thường kéo dài hơn và phụ thuộc rất lớn vào chủng ký sinh trùng Plasmodium xâm nhập. Trung bình, thời gian ủ bệnh dao động từ 9 đến 30 ngày. Đặc biệt, ở một số trường hợp nhiễm chủng ký sinh trùng thể ẩn (như Plasmodium vivax), ký sinh trùng có thể nằm yên trong tế bào gan của người bệnh suốt nhiều tháng, thậm chí nhiều năm rồi mới tái hoạt động và gây phát bệnh.
Dấu hiệu bệnh
Bảng so sánh dưới đây giúp bạn nhận diện các dấu hiệu lâm sàng đặc trưng của từng bệnh:
Tính chất cơn sốt:
- Sốt xuất huyết Dengue: Người bệnh thường sốt cao đột ngột, liên tục từ 39°C – 40°C và kéo dài dai dẳng từ 2 đến 7 ngày. Cơn sốt rất khó hạ mặc dù đã sử dụng các loại thuốc hạ sốt thông thường.
- Sốt rét: Cơn sốt có tính chất chu kỳ đặc trưng, tiến triển rõ rệt qua 3 giai đoạn nối tiếp nhau bao gồm: Rét run bần bật (kéo dài từ 15 phút đến 1 tiếng), kế tiếp là Sốt cao nóng hừng hực (kéo dài từ 2 đến 6 tiếng) và cuối cùng là Vã mồ hôi đầm đìa kèm theo hạ nhiệt độ cơ thể.
Triệu chứng đi kèm:
- Sốt xuất huyết Dengue: Người bệnh đau đầu dữ dội (đặc biệt là vùng trán), nhức hai hốc mắt rõ rệt khi liếc mắt, đau mỏi các khớp cơ bắp toàn thân, chán ăn, buồn nôn và mệt mỏi lờ đờ.
- Sốt rét: Xuất hiện tình trạng đau đầu, mệt mỏi cơ, mỏi khớp nhưng không bị nhức hốc mắt rõ rệt như sốt xuất huyết. Người bệnh có thể có biểu hiện thiếu máu (da xanh xao, niêm mạc nhợt nhạt) do ký sinh trùng phá hủy tế bào hồng cầu trong máu.
Biểu hiện xuất huyết:
- Sốt xuất huyết Dengue: Đây là dấu hiệu điển hình. Trên cơ thể xuất hiện các chấm xuất huyết đỏ li ti dưới da (không biến mất khi căng da), các mảng bầm tím, chảy máu cam hoặc chảy máu chân răng. Ở thể bệnh nặng có thể gây xuất huyết nội tạng như nôn ra máu, đi ngoài phân đen.
- Sốt rét: Hoàn toàn không có biểu hiện xuất huyết dưới da hay niêm mạc (ngoại trừ một số ít trường hợp sốt rét biến chứng ác tính gây ra tình trạng rối loạn đông máu nặng ở giai đoạn cuối).
Tình trạng gan lách:
- Sốt xuất huyết Dengue: Gan của người bệnh có thể sưng to nhẹ và gây ra cảm giác đau tức vùng hạ sườn phải (dấu hiệu này thường xuất hiện rõ từ ngày thứ 3 đến ngày thứ 5 của bệnh).
- Sốt rét: Lách sưng to và gan to là dấu hiệu lâm sàng rất điển hình của bệnh sốt rét, nguyên nhân do hệ thống gan lách phải hoạt động quá công suất để liên tục tiêu hủy các tế bào hồng cầu bị ký sinh trùng làm tổn thương.

Sốt rét nổi bật với những cơn sốt có chu kỳ rét run, trong khi sốt xuất huyết đặc trưng bởi cơn sốt cao liên tục và xuất huyết dưới da (Nguồn: Sưu tầm)
Cách điều trị sốt rét và sốt xuất huyết
Chính vì nguyên nhân gây bệnh là khác nhau (một bên do ký sinh trùng đơn bào, một bên do virus) nên nguyên tắc điều trị của hai căn bệnh này hoàn toàn trái ngược nhau.
Điều trị sốt rét
Bệnh sốt rét đã có thuốc điều trị đặc hiệu. Mục tiêu cốt lõi của điều trị sốt rét là sử dụng các nhóm thuốc kháng ký sinh trùng để tiêu diệt sạch mầm bệnh trong máu và tế bào gan, cắt đứt cơn sốt và ngăn ngừa bệnh tái phát.
- Các loại thuốc thường được bác sĩ chỉ định bao gồm: Chloroquine, Artemisinin và các dẫn xuất phối hợp (ACTs), Primaquine (để diệt thể ngủ trong gan đối với chủng P. vivax).
- Người bệnh cần tuyệt đối tuân thủ uống thuốc đúng liều, đủ ngày theo chỉ định của bác sĩ để tránh nguy cơ ký sinh trùng sốt rét kháng thuốc – một tình trạng y khoa cực kỳ nguy hiểm và khó điều trị.
Điều trị sốt xuất huyết
Cho đến nay, sốt xuất huyết chưa có thuốc điều trị đặc hiệu đối với virus Dengue. Phương pháp điều trị hoàn toàn là điều trị triệu chứng, hỗ trợ nâng đỡ cơ thể và theo dõi sát sao để phát hiện sớm các dấu hiệu cảnh báo chuyển nặng.
- Hạ sốt: Chỉ được dùng thuốc hạ sốt chứa hoạt chất Paracetamol đúng liều lượng (10-15mg/kg/lần). Tuyệt đối nói không với Aspirin hay Ibuprofen vì chúng làm trầm trọng thêm tình trạng chảy máu.
- Bù dịch: Khuyến khích người bệnh uống nhiều nước, dung dịch điện giải Oresol, nước trái cây để chống tình trạng cô đặc máu do hiện tượng thoát huyết tương. Các trường hợp nặng phải nhập viện để truyền dịch tĩnh mạch dưới sự giám sát chặt chẽ của bác sĩ.
Biện pháp phòng ngừa bệnh sốt rét và sốt xuất huyết
Dù có cơ chế bệnh sinh khác nhau, nhưng vì cả hai bệnh đều lấy muỗi làm đường lây truyền duy nhất, nên các biện pháp can thiệp vào môi trường sống và tiêu diệt muỗi luôn là chìa khóa vàng để phòng bệnh:
- Tiêu diệt nơi sinh sản của muỗi:
- Đối với sốt xuất huyết: Thường xuyên cọ rửa, đậy kín các dụng cụ chứa nước sinh hoạt, lật úp các xô chậu cũ đọng nước mưa, thay nước bình hoa định kỳ để triệt tiêu nguồn lăng quăng, bọ gậy của muỗi vằn xung quanh nhà.
- Đối với sốt rét: Khơi thông cống rãnh, phát quang các bụi rậm rạp xung quanh nhà, lấp các vũng nước đọng lâu ngày trong các khu vườn, bìa rừng để triệt phá nơi đẻ trứng của muỗi Anopheles.
- Phòng chống muỗi đốt:
- Luôn duy trì thói quen ngủ màn (mùng) kể cả ban ngày hay ban đêm. Đối với vùng có dịch sốt rét lưu hành, nên sử dụng màn hoặc rèm cửa có tẩm hóa chất xua diệt muỗi an toàn.
- Mặc quần áo dài tay, sáng màu khi đi vào những vùng nhiều cây cối, vùng rừng núi hoặc khi làm việc ngoài trời vào lúc sáng sớm và chiều muộn.
- Sử dụng các sản phẩm kem chống muỗi, xịt xua muỗi bôi trực tiếp lên da hở để bảo vệ cơ thể khỏi muỗi đốt.
- Chủ động tiêm vắc xin và dùng thuốc dự phòng:
- Tiêm vắc xin phòng bệnh sốt xuất huyết theo đúng lịch khuyến cáo của cơ quan y tế để cơ thể chủ động sinh kháng thể bảo vệ.
- Đối với những người chuẩn bị đi công tác, du lịch hoặc lao động tại các vùng rừng núi có dịch sốt rét lưu hành nặng, cần đến các cơ sở y tế dự phòng để được tư vấn uống thuốc dự phòng sốt rét trước khi đi.

Ngủ màn và giữ gìn vệ sinh môi trường xung quanh là lá chắn vững chắc bảo vệ gia đình khỏi cả sốt rét và sốt xuất huyết (Nguồn: Sưu tầm)
Những câu hỏi thường gặp về sốt rét và sốt xuất huyết
Sốt rét và sốt xuất huyết cái nào nguy hiểm hơn?
Cả hai bệnh đều sở hữu những mức độ nguy hiểm riêng biệt nếu không được phát hiện và xử trí kịp thời:
- Sốt xuất huyết nguy hiểm ở chỗ bệnh diễn tiến rất nhanh và có thể chuyển nặng đột ngột vào ngày thứ 3 – thứ 7 của bệnh (ngay khi người bệnh hết sốt). Các biến chứng như sốc giảm thể tích, xuất huyết nội tạng ồ ạt, suy đa tạng diễn ra rất nhanh và tỷ lệ tử vong cao nếu cấp cứu muộn.
- Sốt rét nếu không được điều trị bằng thuốc đặc hiệu kịp thời sẽ tiến triển thành sốt rét ác tính. Thể bệnh này gây tắc nghẽn các vi mạch máu, dẫn đến sốt rét thể não (hôn mê sâu, co giật), suy thận cấp, phù phổi cấp hoặc thiếu máu nghiêm trọng, đe dọa trực tiếp đến tính mạng.
Sốt rét do muỗi nào gây ra?
Bệnh sốt rét do muỗi đòn xóc thuộc chi Anopheles cái truyền bệnh. Loài muỗi này khi đậu sẽ hướng phần bụng và thân lên một góc nghiêng so với bề mặt bám (trông giống như chiếc đòn xóc). Chúng thường sinh sản ở những nguồn nước tự nhiên chảy chậm, trong vắt như các khe suối, dòng kênh vùng rừng núi.
Sốt xuất huyết do muỗi gì?
Bệnh sốt xuất huyết do muỗi vằn thuộc chi Aedes (chủ yếu là Aedes aegypti) truyền bệnh. Loài muỗi này có đặc điểm nhận dạng rất rõ ràng với những vằn trắng đen xen kẽ trên lưng và các đốt bàn chân. Chúng thích sống ở những nơi gần người, đẻ trứng trong các ổ nước sạch do con người tạo ra như bể chứa, chum vại, lọ hoa, rác thải đọng nước xung quanh nhà.
Việc phân biệt sốt rét và sốt xuất huyết rất quan trọng để điều trị đúng. Nếu sốt xuất huyết gây sốt cao liên tục và xuất huyết, thì sốt rét đặc trưng bởi cơn rét run và tổn thương nội tạng. Khi sốt cao không rõ nguyên nhân, hãy đến ngay cơ sở y tế để xét nghiệm. Đừng quên ghé Pharmacity để mua kem chống muỗi, nhiệt kế, Oresol và sản phẩm tăng đề kháng nhằm phòng bệnh hiệu quả cho gia đình.
Nguồn tham khảo:
Bộ Y Tế TP.HCM:
https://tytphuongtaythanh.medinet.gov.vn/phong-chong-cac-benh-truyen-nhiem/phan-biet-sot-ret-va-sot-xuat-huyet-cmobile9468-204205.aspx
Lưu ý: Bài viết chỉ nhằm mục đích cung cấp thông tin tổng quan. Vui lòng tham khảo ý kiến của Bác sĩ, Dược sĩ hoặc chuyên gia y tế để nhận được hướng dẫn phù hợp với tình trạng sức khỏe của bạn.
