Quả lâu là dược liệu có tính mát, vị ngọt đắng, với công dụng thanh nhiệt, nhuận phế trường, giải đàm, điều trị táo bón, ho khan, và các tình trạng liên quan. Quả lâu chứa các hợp chất triterpenoid, protein, sterol, acid béo, và các hoạt chất khác, giúp ức chế phản ứng viêm, gây sảy thai, và hỗ trợ điều trị HIV.
Tìm hiểu chung về Qua lâu (Quả)
Tên gọi, danh pháp
- Tên tiếng Việt: Qua lâu.
- Tên gọi địa phương khác: Dưa trời; dưa núi; hoa bát; vương qua; dây bạc bát; thau ca (Tày); bát bát trâu.
- Danh pháp khoa học: Trichosanthes kirilowi Cucurbitaceae.
Đặc điểm tự nhiên
- Qua lâu là cây leo có thân dài từ 3 đến 10 cm, thân cây có rãnh dọc và những điểm trắng phân tán. Lá mọc so le, lá dày, đường kính 10 – 12 cm, phần gốc lá hình tim với đỉnh hơi nhọn, chia thành 5 thùy rõ rệt, mép lá có răng cưa. Tua cuốn mọc đối xứng với lá, phân chia thành 3 – 5 nhánh.
- Hoa đơn tính, có màu trắng với cánh hoa mọc lông, hoa gồm cả thể đực và thể cái.
- Quả có dạng cầu hoặc hình trứng, ban đầu màu lục có sọc trắng, sau khi chín chuyển sang màu đỏ.
- Hạt quả có hình trứng, màu nâu nhạt, nằm dồi dào bên trong quả.
- Rễ củ có hình thái tương tự như củ sắn.
- Thời kỳ ra hoa: tháng 3 – 6; thời kỳ cho quả: tháng 7 – 10.
Phân bố, thu hái, chế biến
- Qua lâu ưa ánh sáng nhưng cũng có khả năng chịu bóng, thích môi trường ẩm ướt, thường sinh trưởng ở vùng rừng núi đá vôi ẩm hoặc các khu vực ven rừng tiếp giáp với núi.
- Phạm vi phân bố chủ yếu tập trung ở khu vực Đông Á, bao gồm Triều Tiên, Trung Quốc, Nhật Bản, Việt Nam và Lào. Tại Việt Nam, cây chủ yếu phân bố ở các tỉnh miền núi phía Bắc như Quảng Ninh, Cao Bằng, Lạng Sơn.
- Quả qua lâu có giá trị ăn được, trong đó phần thịt quả là phần chính được tiêu thụ.
- Thu hái quả vào mùa 9 – 10, sau đó lấy vỏ quả và hạt phơi khô. Rễ củ được thu hái vào mùa đông, rửa sạch, cắt thành từng đoạn và phơi khô.
- Tùy theo mục đích khai thác (quả hoặc rễ củ), người canh tác có thể điều chỉnh cho cây ra hoa hay không. Khi muốn thu hái rễ củ, người ta sẽ loại bỏ toàn bộ hoa khi cây ra hoa để tránh kết quả, từ đó cây tập trung dinh dưỡng vào phát triển rễ củ một cách hiệu quả hơn.
Bộ phận sử dụng
- Các phần dùng làm dược liệu gồm: hạt (qua lâu nhân), vỏ quả (qua lâu bì) và rễ củ (thiên hoa phấn hoặc qua lâu can).
Thành phần hóa học
- Hạt qua lâu: Hợp chất triterpenoid (có tác dụng ức chế phản ứng viêm), hợp chất protein (có khả năng ức chế hoạt động của ribosom, dẫn tới sảy thai), sterol, acid béo.
- Rễ củ: Protein, trichosanthin (hoạt tính chống u và chống HIV), karasurin (gây sảy thai), peptid (ức chế trypsin), lectin (tianbuafen), steroid acid hữu cơ và glucosid, curbitacin (hoạt chất đắng)…
Công dụng của Qua lâu (Quả)
Theo y học cổ truyền
- Hạt qua lâu được ghi nhận có tính mát, vị ngọt đắng, tác động chủ yếu vào hai kinh Phế và Vị.
- Công năng chính của hạt qua lâu bao gồm thanh nhiệt, nhuận phế trường, giải đàm; ngoài ra dược liệu còn được áp dụng trong điều trị táo bón, ho khan, chảy máu từ miệng, ung nhọt và các tình trạng liên quan.
- Vỏ quả qua lâu được sử dụng để điều trị ho, thổ huyết, chảy máu cam, sốt cao, phù thũng, vàng da; trong thực hành lâm sàng, vỏ quả thường được phối hợp với các vị thuốc khác để xử trị viêm họng kèm theo mất tiếng nói.
- Theo kinh nghiệm y học Trung Quốc, rễ và vỏ qua lâu được kết hợp với các vị dược liệu khác nhằm trị ho gà, làm giảm co thắt, thúc đẩy long đờm, và phát huy tác dụng kháng viêm.
- Hạt qua lâu được vận dụng trong xử trị các bệnh lý phổi, hỗ trợ lợi tiểu, kích thích tiết sữa, hạ sốt; đồng thời áp dụng trong điều trị táo bón, sát khuẩn, và tăng cường tính se của niêm mạc ruột (đặc biệt trong trường hợp tiêu chảy có máu).
Theo y học hiện đại
Tác dụng chống viêm
- Hạt qua lâu chứa nhóm hoạt chất triterpenoid, bao gồm 5 hợp chất có khung D-C friedo-olean và 1 hợp chất có cấu trúc 7 oxo-10α cucurbitadrenol; theo các nghiên cứu dược lý, những hoạt chất này đã được xác nhận sở hữu khả năng kháng viêm bởi Akihisa Toshihiro và cộng sự vào năm 1994.
Tác dụng ức chế ribosom, gây sẩy thai
- Một số protein như trichokirin được xác định là tiền chất dùng để chế tạo chất độc miễn dịch từ năm 1989 trở lại; β-kinilowin được Dong T.K.Ng T B phân lập và xác định cấu trúc, thể hiện hoạt tính gây sẩy thai mạnh mẽ, trong khi α-kinilowin cũng biểu hiện khả năng ức chế hoạt động của ribosom. Một protein khác là TAP-29 được ghi nhận có tác dụng ức chế sự tăng sinh của vi khuẩn I-IIV. Protein trichosanthin sở hữu công năng gây sảy thai và hỗ trợ điều trị HIV. Các protein như karasurin A, B, C cũng được các chuyên gia đánh giá có khả năng chống ung thư, chống virus HIV và gây sảy thai rõ rệt.
- Hạt qua lâu sau khi trải qua quá trình sấy khô và tán thành bột mịn, được bào chế thành dạng bôi ngoài da để điều trị các bệnh lý da liễu như bệnh eczema.
Bài thuốc kinh nghiệm
Chữa trẻ con bị vàng da
- Chuẩn bị: Rễ qua lâu 10 g.
- Thực hiện: Rễ qua lâu được giã nhỏ, sau đó thêm nước và đun sôi, để nguội rồi khuấy đều, lọc gạn lấy nước để uống. Để tăng khả năng chấp nhận của trẻ, có thể pha thêm một ít mật ong vào nước thuốc.
Chữa người đen sạm
- Chuẩn bị: Rễ qua lâu 16 g.
- Thực hiện: Rễ qua lâu được giã nhỏ và trộn với nước, khuấy đều, sau đó lọc gạn phần nước trong vòng vài ngày và uống liên tục.
Bài 1
- Chuẩn bị: Qua lâu nhân 8 g; sài hồ 16 g, hạ khô thảo 16 g, huyền sâm 16 g; bán hạ chế 8 g, chỉ xác 8 g, tang bạch bì 8 g.
- Thực hiện: Sắc tất cả các vị thuốc nêu trên và dùng mỗi ngày một thang.
Bài 2
- Chuẩn bị: Qua lâu 20 g, sài hồ 20 g, thanh hao 20 g, hoàng cầm 12 g, cát cánh 12 g, chỉ xác 12 g, bán hạ chế 8 g.
- Thực hiện: Sắc các vị thuốc trên và uống mỗi ngày một thang.
Chữa cơn đau vùng tim
Bài 1
- Chuẩn bị: Qua lâu nhân 20 g, củ hẹ 12 g, nhân hạt đào vỏ chanh già 12 g.
- Thực hiện: Sắc các vị trên và uống trong suốt ngày.
Bài 2
- Chuẩn bị: Qua lâu 8 g, đào nhân 16 g, xuyên khung 12 g, sinh địa 12 g, đương quy 12 g, xích thược 12 g, sài hồ 12 g, hồng hoa 12 g; cát cánh 8 g, trần bì 8 g, củ hẹ 8 g, chỉ xác 8 g, cam thảo 6 g.
- Thực hiện: Sắc tất cả các vị và uống trong ngày.
Chữa xơ cứng động mạch vành hoặc thời kỳ ổn định sau nhồi máu cơ tim
Bài 1
- Chuẩn bị: Qua lâu 8 g, vỏ trai 20 g, thiên ma 8 g, câu đằng 8 g, thiên môn 8 g, hoàng tinh 8 g, địa long 8 g, sung uý tử 8 g, đan sâm 8 g, hồng hoa 8 g; bán hạ chế 6 g, củ hẹ 6 g.
- Thực hiện: Sắc các vị trên và uống trong ngày.
Bài 2
- Chuẩn bị: Qua lâu 8 g, hà thủ ô 16 g, trinh nữ tử 12 g, cỏ nhọ nồi 12 g, tang ký sinh 12 g, hoàng tinh 12 g, kê huyết đằng 12 g, tang thầm 12 g, rễ gai 8 g, thiên môn 8 g, củ hẹ 8 g, uất kim 8 g, hồng hoa 8 g.
- Thực hiện: Sắc các vị trên và uống trong ngày.
Chữa đái tháo đường
- Chuẩn bị: Rễ qua lâu 8 g, thục địa 20 g, hoài sơn 20 g, đan bì 12 g, kỷ tử 12 g, thạch hộc 12 g, sơn thù 8 g, sa sâm 8 g.
- Thực hiện: Sắc các vị trên và uống ngày một thang.
Chữa sốt rét; thể rét nhiều sốt ít hoặc không sốt
- Chuẩn bị: Qua lâu 8 g, quế chi 8 g, gừng khô 8 g, thảo quả 8 g, xuyên tiêu 8 g, binh lang 6 g.
- Thực hiện: Sắc các vị trên và uống.
Chữa viêm tắc động mạch
- Chuẩn bị: Qua lâu nhân 16 g; đương quy 20 g, cam thảo 20 g; kim ngân hoa 16 g, xích thược 16 g, ngưu tất 16 g; huyền sâm 12 g, đào nhân 12 g, đan bì 12 g, đan sâm 12 g, binh lang 8 g, chỉ xác 8 g.
- Thực hiện: Sắc và uống ngày một thang.
Chữa viêm tuyến vú
- Chuẩn bị: Qua lâu 12 g; bồ công anh 40 g; kim ngân hoa 16 g, liên kiều 16 g; hoàng cầm 12 g; thanh bì 8 g, sài hồ 8 g.
- Thực hiện: Sắc và uống ngày một thang.
Chữa viêm họng mất tiếng
- Chuẩn bị: Vỏ quả qua lâu 10 g, bạch cương tàm 10 g, cam thảo 10 g, gừng tươi 4 g.
- Thực hiện: Sắc các vị trên và chia 2 lần uống mỗi ngày.
Chữa đau thắt ngực
- Chuẩn bị: Qua lâu 12 g; đan sâm 20 g, xuyên khung 20 g, trầm hương 20 g, uất kim 20 g; hồng hoa 16 g; xích thược 12 g, hương phụ chế 12 g, hẹ 12 g; xuyên quy vĩ 10 g.
- Thực hiện: Sắc và uống ngày một thang cho đến khi triệu chứng đau thắt ngực được cải thiện.
Lưu ý khi dùng Qua lâu (Quả)
- Cho đến nay, trong y văn chưa ghi nhận các báo cáo về tác dụng phụ hoặc biến cố bất lợi liên quan đến sử dụng quả qua lâu.
Nguồn tham khảo
Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi
Cây thuốc và động vật làm thuốc Việt Nam (tập 2)

