Lá giang là một loại dược liệu quý, có vị chua thanh và mùi thơm dễ chịu. Trong y học cổ truyền, lá giang được dùng để làm dịu cơn khát, thanh nhiệt, sát trùng, tiêu viêm. Với thành phần hóa học đa dạng, bao gồm saponin, flavonoid, axit tartaric, lá giang cũng có tác dụng kháng khuẩn, giảm sỏi đường tiết niệu và chống viêm. Bài viết sẽ cung cấp thông tin chi tiết về đặc điểm, lợi ích, bài thuốc và lưu ý khi sử dụng lá giang.
Tìm hiểu chung về Lá giang
Tên gọi, danh pháp
- Tên Việt: Lá Giang.
- Tên gọi khác: Dây dang; lá Vón vén; Giang chua; Dây cao su; lá Sủm lum; Lá lồm.
- Danh pháp khoa học: Aganonerion polymorphum.
Đặc điểm tự nhiên
- Cây lá giang thuộc dạng dây leo với cấu trúc bụi rậm, thân gỗ hóa, chiều dài có thể đạt 5 – 10m hoặc vượt quá kích thước này. Thân cây mềm dẻo, đường kính xấp xỉ 8 – 10cm, bề mặt nhẵn mịn, chồi non mỏng manh với màu sắc xanh nhạt. Theo quá trình tuổi tác, thân cây chuyển sang màu nâu sâu và bề mặt trở nên bóng bẩy hơn. Loài này có đặc tính leo trèo trên các thân cây lớn hoặc bò sát mặt đất.
- Lá mọc theo cách sắp xếp đối diện, hình dáng trứng, chiều dài 5 – 8cm, chiều rộng 2 – cm, gốc lá tròn, hơi nhọn dần về phía đỉnh, mép lá nguyên vẹn, bề mặt nhẵn ở cả hai phía. Lá có hai mặt phân biệt, mặt trên hiển thị màu xanh nhạt hơn so với mặt dưới. Cuống lá dài 0,8 – 1,5cm.
- Cụm hoa tập trung thành hình chùy dài 10 – 15cm, gồm nhiều nhánh hoa nhỏ hình xim. Hoa nhỏ, số lượng nhiều, thường 3 – 5 bông trên mỗi nhánh, màu sắc trắng hồng. Đài hoa có dạng ống với 5 ngoằn cưa, 5 cánh hoa mỏng manh. Nhị hoa 5 cái, bao phấn hình dải hẹp hơi nhọn sắp xếp đối diện; bầu trên có 2 lá noãn.
- Quả có màu đen sâu, chiều dài 8 – 12cm, chiều rộng 5 – 7mm, bề mặt khía rõ theo chiều dọc. Hạt có hình thuôn dài, kèm theo các gờ mềm màu nâu ở phần đỉnh, kích thước khoảng 3mm.
- Toàn bộ cây chứa nhựa mủ trắng đặc trưng.
Phân bố, thu hái, chế biến
- Cây giang phân bố rộng rãi ở các vùng nhiệt đới Đông Nam Á, bao gồm Thái Lan, Lào, Campuchia và các nước khác. Tại Việt Nam, loài này thường gặp ở các vùng núi thấp như Bình, Lạng Sơn, Cao và phần lớn các tỉnh miền Trung cũng như miền Bắc. Dược liệu cũng đã được ghi nhận xuất hiện ở các tỉnh ven biển miền Trung như Pingding và Fu'an. Loài này thuộc nhóm cây thân nho, lá xanh quanh năm, yêu thích ánh sáng. Cây phát triển mạnh mẽ nhất trong mùa mưa và gió mùa, với năng suất quả cao nhất ghi nhận ở các tỉnh duyên hải miền Trung.
- Khi quả chín tới độ trưởng thành, nó tự tách thành hai mảnh để hạt được giải phóng. Gió đóng vai trò phát tán hạt, tuy nhiên do mào gà dễ rơi ra nên khoảng cách phát tán không quá xa. Cây có sức sống mạnh nên khả năng tái sinh rất tốt ngay cả sau khi bị chặt hạ nhiều lần.
Mùa thu hái:
- Cành và lá có thể thu hái được quanh năm, sử dụng dưới dạng tươi hoặc sau khi phơi khô. Nhờ vị chua thanh và mùi thơm dễ chịu, phần này có thể vừa dùng làm cảnh vừa có giá trị dược liệu.
- Thời kỳ ra hoa tối ưu nhất là giai đoạn tháng 4 – 8.
Bộ phận sử dụng
- Cành và lá của cây lá giang được khai thác chủ yếu để chế biến dược liệu. Bên cạnh đó, rễ cây cũng có giá trị dược liệu nhưng mức độ ứng dụng phổ biến thấp hơn so với cành lá.
Thành phần hóa học
- Trong 100 gam mô tươi, lá giang chứa: 85,3g nước, 0,6mg caroten, 26mg vitamin C, 3,5g glucozit và các thành phần khác.
- Ngoài ra, dược liệu còn tích tụ 2,44% saponin, 2,24% flavonoid, 1,7% axit tartaric, sterol, coumarin, axit hữu cơ, chất béo, các nguyên tố vi lượng và các khoáng chất (Na, Ca, Mn, Sr, Fe).
Công dụng của Lá giang
Theo y học cổ truyền
- Vị: Chua chua, thanh mát.
- Lá: Làm dịu cơn khát, thanh nhiệt, sát trùng, tiêu viêm, chữa mụn nhọt, giúp tiêu hóa, ăn không tiêu, no lâu, giải cảm…
- Cành và thân: Lợi tiểu, tiêu sỏi, giải độc, tiêu khát, thanh nhiệt, tiêu phù thũng…
- Ngoài ra, dùng ngoài, có thể chữa ngộ độc bún bằng lá giã nát và sắc nước.
Theo y học hiện đại
- Kháng khuẩn: Nhờ chứa 5% saponin, ức chế Klebsiella, Salmonella typhi và một số vi khuẩn có hại khác như Bacillus subtilis, Bacillus cereus.
- Giảm sỏi đường tiết niệu, lợi tiểu: Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc sử dụng các loại nước sắc từ thảo dược có khả năng làm giảm sỏi đường tiết niệu.
- Chống viêm: Thử nghiệm trên chuột, nước sắc lá gừng có tác dụng chống sưng tấy, tiêu viêm…
Liều dùng và cách dùng Lá giang
- Lá Giang có thể được thêm vào súp, ăn trực tiếp, hoặc sử dụng bên ngoài như một nguyên liệu nấu ăn (canh chua, gà rán, thịt bò …).
Liều lượng:
- Dùng tươi: 100-200g/ngày.
- Dùng khô: 20g/ngày.
- Thuốc bôi, không bao gồm liều cố định.
Bài thuốc kinh nghiệm
Bổ trợ điều trị nhiễm trùng đường tiết niệu, tiểu không tự chủ
- Lá Giang khô 10 – 20g hoặc tươi 100 – 200g, cho nước đun sôi để uống, uống thay trà.
Hỗ trợ tiêu hóa, điều trị đầy hơi, khó tiêu
- Rễ và lá 20 – 30gam, sắc lấy nước, ngày 2 – 3 lần.
Trị vết thương, nhọt, lở ngứa ngoài da
- Dùng ngoài, lấy lượng lá Giang tươi, rửa sạch, giã nát, đắp trực tiếp lên vết thương.
Lưu ý khi dùng Lá giang
- Chống chỉ định sử dụng ở bệnh nhân bị gút cấp tính: Do chứa axit tartaric, dược liệu có thể làm chậm quá trình thải axit uric qua đường niệu, dẫn đến tăng nồng độ axit uric trong huyết thanh.
- Không áp dụng để hỗ trợ điều trị sỏi thận vì axit trong dược liệu có thể lắng đọng.
- Trong quá trình chế biến, tránh sử dụng dụng cụ nấu bằng kim loại, bởi các thành phần axit trong lá có khả năng oxy hóa và ăn mòn bề mặt kim loại, từ đó sinh ra các chất độc hại; nếu sử dụng chảo kim loại, cần lấy dược liệu ra ngay sau khi canh nấu xong.
Nguồn tham khảo
Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam. Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật Hà Nội.
Cây cỏ Việt Nam. G.S Phạm Hoàng Hộ. NXB Trẻ.
Lê Thế Chính, Ngô Vi Hùng, Nguyễn Duy Khang. Kết quả thử tác dụng kháng khuẩn của cây lá Giang. Tạp chí Dược học 1994 số 6, trang 15-16.

