Chloramphenicol succinate là một loại kháng sinh hiệu quả trong điều trị các bệnh nhiễm khuẩn nghiêm trọng. Thuốc này hoạt động bằng cách ức chế quá trình tổng hợp protein ở các vi khuẩn nhạy cảm, có phổ kháng khuẩn rộng và hiệu quả trên nhiều loại vi khuẩn. Chloramphenicol succinate thường được sử dụng để điều trị các nhiễm khuẩn do Rickettsia, bệnh thương hàn và các nhiễm khuẩn khác khi các loại thuốc kháng sinh ít độc hơn không mang lại hiệu quả hoặc bị chống chỉ định.
Tổng quan về Chloramphenicol succinate
Tên thuốc gốc (Hoạt chất)
- Chloramphenicol succinate (Chloramphenicol)
Loại thuốc
- Kháng sinh
Dạng thuốc và hàm lượng
- Lọ 1,0 g chloramphenicol (dạng natri succinat) để pha tiêm.
Chỉ định Chloramphenicol succinate
- Chloramphenicol succinate chỉ được sử dụng để điều trị các bệnh nhiễm khuẩn nghiêm trọng do vi khuẩn nhạy cảm, trong những trường hợp các loại thuốc kháng sinh ít độc hơn không mang lại hiệu quả hoặc bị chống chỉ định.
- Nhiễm khuẩn do Rickettsia: Chloramphenicol là thuốc được ưu tiên lựa chọn cho các nhiễm khuẩn do Rickettsia, đặc biệt khi tetracyclin không thể được sử dụng (ví dụ ở trẻ em dưới 8 tuổi và phụ nữ mang thai).
- Bệnh thương hàn: Hiện tại, chloramphenicol không còn được khuyến nghị để điều trị bệnh thương hàn do Salmonella typhi vì tỷ lệ nhạy cảm chỉ còn dưới 20%. Thuốc cũng không được dùng để xử lý các trường hợp mang mầm bệnh thương hàn.
- Nhiễm khuẩn do Haemophilus: Chloramphenicol không nên là lựa chọn đầu tay để điều trị viêm màng não và các nhiễm khuẩn khác do Haemophilus influenzae, đặc biệt khi có sẵn các kháng sinh khác hiệu quả hơn, có khả năng khuếch tán tốt vào dịch não tủy và ít độc hơn (ví dụ, một số cephalosporin thế hệ 3).
Dược lực học
Dược lực học
- Chloramphenicol succinate, ban đầu được chiết xuất từ Streptomyces venezuelae, hiện nay đã được tổng hợp hóa học.
- Thuốc này thường hoạt động như một chất kìm khuẩn, nhưng có thể thể hiện tác dụng diệt khuẩn ở nồng độ cao hoặc đối với các chủng vi khuẩn đặc biệt nhạy cảm.
- Cơ chế tác dụng của chloramphenicol là ức chế quá trình tổng hợp protein ở các vi khuẩn nhạy cảm bằng cách liên kết với tiểu đơn vị 50S của ribosome.
- Chloramphenicol có phổ kháng khuẩn rộng, hiệu quả trên nhiều loại vi khuẩn, mặc dù trong hầu hết các trường hợp, có sẵn các lựa chọn kháng sinh thay thế với độc tính thấp hơn.
Vi khuẩn Gram dương:
- Các tụ cầu Gram dương như Staphylococcus epidermidis, một số chủng Staphylococcus aureus, và các liên cầu như Streptococcus pneumoniae, Streptococcus pyogenes, cùng với Viridans streptococci, cho thấy độ nhạy cảm với thuốc.
- Ngược lại, các chủng Staphylococcus kháng methicillin và Enterococcus faecalis thường kháng chloramphenicol.
- Các trực khuẩn Gram dương như Bacillus anthracis, Corynebacterium diphtheriae, và một số loài kỵ khí như Peptococcus và Peptostreptococcus spp. thường nhạy cảm.
Vi khuẩn Gram âm:
- Các cầu khuẩn Gram âm như Neisseria meningitidis và Neisseria gonorrhoeae có độ nhạy cảm cao với thuốc.
- Các vi khuẩn Gram âm nhạy cảm khác bao gồm Haemophilus influenzae và một số chủng như Bordetella pertussis, Brucella abortus, Campylobacter spp., Legionella pneumophila, Pasteurella, và Vibrio spp.
- Độ nhạy cảm của các chủng vi khuẩn trong họ Enterobacteriaceae rất đa dạng, với nhiều chủng đã phát triển khả năng kháng chloramphenicol.
- Pseudomonas aeruginosa thường kháng thuốc, mặc dù Burkholderia spp. có thể nhạy cảm.
- Một số loài vi khuẩn Gram âm kỵ khí, bao gồm Bacteroides fragilis, Veillonella và Fusobacterium spp., có thể có độ nhạy cảm hoặc nhạy cảm trung gian.
Các vi khuẩn nhạy cảm khác:
- Chloramphenicol cũng có hiệu quả chống lại Actinomyces spp., Leptospira spp., Treponema pallidum, các thành viên của họ Chlamydiaceae, Mycoplasma spp. và Rickettsia spp.
- Thuốc không có hoạt tính chống lại nấm, động vật nguyên sinh (protozoa) và virus.
Dược động học
Hấp thu
- Nồng độ chloramphenicol trong huyết tương sau khi tiêm tĩnh mạch chloramphenicol natri succinat có sự biến động đáng kể giữa các bệnh nhân, phụ thuộc vào mức độ thanh thải của thận.
Phân bố
- Thuốc chloramphenicol succinate được phân bố rộng rãi vào hầu hết các mô và dịch của cơ thể, bao gồm nước bọt, dịch cổ trướng, dịch màng phổi, hoạt dịch, thủy dịch và dịch kính. Gan và thận là những cơ quan có nồng độ thuốc cao nhất.
- Thể tích phân bố của chloramphenicol succinat nằm trong khoảng 0,2-3,1 L/kg, với tỷ lệ liên kết protein huyết tương đạt 57-92%. Ở người lớn có chức năng gan và thận bình thường, thời gian bán thải của chloramphenicol trong huyết tương là 1,5 – 4,1 giờ.
Chuyển hóa
- Quá trình khử hoạt chloramphenicol diễn ra chủ yếu tại gan, nhờ vào enzym glucuronyl transferase.
Thải trừ
- Đối với người lớn có chức năng thận và gan khỏe mạnh, khoảng 30% liều chloramphenicol natri succinat tiêm tĩnh mạch được đào thải qua nước tiểu dưới dạng không đổi. Một phần nhỏ chloramphenicol succinate dạng không đổi cũng được bài tiết qua mật và phân sau khi dùng thuốc đường uống.
- Tuy nhiên, tỷ lệ liều bài tiết qua nước tiểu ở dạng không đổi có sự dao động lớn, từ 6% đến 80% ở nhóm trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ.
Tương tác thuốc Chloramphenicol succinate
- Chloramphenicol succinate có khả năng ảnh hưởng đến quá trình chuyển hóa của các thuốc như clorpropamid, dicumarol, phenytoin và tolbutamid. Điều này dẫn đến việc kéo dài thời gian bán thải trong huyết tương và gia tăng tác dụng dược lý của chúng.
- Hơn nữa, ở những bệnh nhân đang điều trị bằng thuốc chống đông máu, chloramphenicol có thể làm tăng thời gian prothrombin do ảnh hưởng đến khả năng tổng hợp vitamin K của hệ vi khuẩn đường ruột.
- Khi sử dụng chloramphenicol cùng lúc với phenobarbital hoặc rifampin, nồng độ của kháng sinh trong huyết tương có thể bị giảm.
- Sự kết hợp chloramphenicol với các chế phẩm chứa sắt, vitamin B12 hoặc acid folic có thể làm chậm hiệu quả điều trị của các thuốc này.
- Cần tránh sử dụng chloramphenicol đồng thời với bất kỳ loại thuốc nào có khả năng gây suy tủy xương.
Chống chỉ định thuốc Chloramphenicol succinate
- Không được dùng chloramphenicol succinate cho những bệnh nhân có tiền sử mẫn cảm hoặc đã từng trải qua các phản ứng độc hại do thuốc.
- Chống chỉ định cho phụ nữ đang trong thai kỳ hoặc đang cho con bú.
- Người mắc bệnh loạn chuyển hóa porphyrin cấp tính.
- Chloramphenicol không nên được sử dụng để điều trị các trường hợp nhiễm khuẩn thông thường hoặc trong các tình huống không có chỉ định, ví dụ như cảm lạnh, cúm, viêm họng; hoặc nhằm mục đích dự phòng nhiễm khuẩn.
Liều lượng & cách dùng Chloramphenicol succinate
- Liều dùng của thuốc này được tính toán dựa trên chloramphenicol base; trong đó, 1,4 g chloramphenicol natri succinat tương đương với 1 g chloramphenicol base.
- Để sử dụng toàn thân, chloramphenicol natri succinat được chỉ định tiêm tĩnh mạch.
- Khi chuẩn bị dung dịch tiêm tĩnh mạch, cần hòa tan 1 g chloramphenicol trong 10 ml nước pha loãng (ví dụ như nước vô khuẩn để tiêm hoặc thuốc tiêm dextrose 5%), tạo ra dung dịch có nồng độ 100 mg chloramphenicol trong 1 ml. Liều đã chuẩn bị này nên được tiêm tĩnh mạch trong thời gian ít nhất là 1 phút.
Cách dùng
Người lớn
- Đối với người trưởng thành có chức năng thận và gan bình thường, liều tiêm tĩnh mạch Chloramphenicol succinate thường dùng là 50 – 100 mg/kg/ngày, được chia thành các liều cách nhau 6 giờ. Liều tối đa hàng ngày không vượt quá 4g.
- Trong trường hợp nhiễm khuẩn do vi khuẩn có mức độ kháng thuốc trung bình, liều khởi đầu là 75 mg/kg mỗi ngày, sau đó giảm xuống 50 mg/kg mỗi ngày ngay khi có thể.
Trẻ em
- Trẻ em trên 28 ngày tuổi được tiêm với liều 50 – 100 mg/kg/ngày, chia thành các liều mỗi 6 giờ. Liều tối đa hàng ngày dao động từ 2 – 4 g.
- Nếu không có liệu pháp thay thế, chloramphenicol có thể được chỉ định cho trẻ sơ sinh đủ tháng và thiếu tháng dưới 2 tuần tuổi với liều 25 mg/kg/ngày, chia làm 4 lần. Trẻ đủ tháng trên 2 tuần tuổi có thể dùng liều 50 mg/kg/ngày, chia làm 4 lần.
Đối tượng khác
Bệnh nhân suy thận
- Nhà sản xuất không cung cấp hướng dẫn điều chỉnh liều cụ thể trong nhãn thuốc; tuy nhiên, việc điều chỉnh liều có thể cần thiết. Cần thận trọng khi sử dụng và theo dõi nồng độ thuốc trong huyết thanh.
Bệnh nhân suy gan
- Nhà sản xuất không đưa ra hướng dẫn điều chỉnh liều lượng cụ thể trong nhãn thuốc; tuy nhiên, có thể cần phải điều chỉnh liều. Cần sử dụng thuốc một cách thận trọng và theo dõi nồng độ thuốc trong huyết thanh.
Tác dụng phụ của Chloramphenicol succinate
Tác dụng phụ
Thường gặp
- Phát ban ngoài da, buồn nôn, nôn mửa, tiêu chảy.
Ít gặp
- Giảm bạch cầu hạt, giảm tiểu cầu và thiếu máu kèm theo giảm hồng cầu lưới (tình trạng này có khả năng phục hồi).
- Nổi mày đay, các phản ứng quá mẫn.
Hiếm gặp
- Đau đầu, tình trạng mất bạch cầu hạt, giảm toàn thể huyết cầu, thiếu máu không tái tạo.
- Viêm dây thần kinh thị giác, viêm đa dây thần kinh ngoại biên, liệt cơ mắt, trạng thái lú lẫn.
- Hội chứng xám ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ dưới 2 tuần tuổi.
Lưu ý khi dùng Chloramphenicol succinate
Lưu ý chung
- Về tác dụng trên huyết học: Các rối loạn huyết học nghiêm trọng và có thể đe dọa tính mạng, như suy tủy xương (thiếu máu bất sản), thiếu máu do giảm sản xuất, giảm tiểu cầu và giảm bạch cầu hạt, đã được ghi nhận sau khi dùng chloramphenicol.
- Ngoài ra, đã có các báo cáo về tình trạng thiếu máu bất sản gây ra bởi chloramphenicol sau đó tiến triển thành bệnh leukemia (ung thư máu dòng bạch cầu).
- Những rối loạn huyết học này có thể xuất hiện sau cả liệu trình điều trị ngắn ngày hoặc dài ngày với thuốc. Không nên sử dụng chloramphenicol nếu có các loại thuốc khác hiệu quả và ít độc tính hơn.
Hội chứng xám
- Hội chứng này có thể xảy ra khi chloramphenicol được dùng cho trẻ sơ sinh thiếu tháng và trẻ sơ sinh đủ tháng, với phần lớn các trường hợp được ghi nhận khi thuốc được sử dụng trong vòng 48 giờ đầu đời của trẻ.
- Hội chứng xám cũng có thể ảnh hưởng đến trẻ em dưới 2 tuổi, cũng như những trẻ sinh ra từ các bà mẹ đã dùng chloramphenicol trong giai đoạn cuối của thai kỳ hoặc trong quá trình chuyển dạ.
- Các triệu chứng của hội chứng xám thường xuất hiện từ 2 đến 9 ngày sau khi bắt đầu điều trị chloramphenicol, bao gồm bỏ bú/ăn, chướng bụng, có hoặc không kèm theo nôn ói, xanh tím tiến triển, trụy tim mạch (có thể đi kèm rối loạn hô hấp), và có nguy cơ tử vong trong vòng vài giờ.
Tác dụng trên thần kinh
- Viêm dây thần kinh thị giác, hiếm khi dẫn đến mù lòa, đã được báo cáo sau khi điều trị chloramphenicol liều cao trong thời gian dài.
- Viêm dây thần kinh ngoại vi cũng được ghi nhận khi sử dụng chloramphenicol kéo dài.
- Nếu xuất hiện viêm dây thần kinh thị giác hoặc viêm dây thần kinh ngoại vi, cần ngừng sử dụng chloramphenicol ngay lập tức.
Thận trọng khác
- Việc dùng chloramphenicol có thể dẫn đến sự phát triển quá mức của các vi khuẩn không nhạy cảm, bao gồm cả nấm. Cần thận trọng khi dùng thuốc cho bệnh nhân thiếu hụt men G6PD và những người có chức năng thận và/hoặc gan bị suy giảm.
Lưu ý với phụ nữ có thai
- Không nên sử dụng chloramphenicol cho phụ nữ đang mang thai; đặc biệt lưu ý rằng việc dùng thuốc gần đến kỳ sinh nở hoặc trong quá trình chuyển dạ có thể gây ra hội chứng xám ở trẻ sơ sinh.
Lưu ý với phụ nữ cho con bú
- Chloramphenicol có khả năng đi vào sữa mẹ. Không nên sử dụng thuốc này cho phụ nữ đang cho con bú vì có thể gây suy tủy xương ở trẻ. Tuy nhiên, nồng độ thuốc trong sữa mẹ thường không đủ để gây ra hội chứng xám cho trẻ.
Lưu ý khi lái xe và vận hành máy móc
- Chưa có báo cáo nào về ảnh hưởng của thuốc đối với khả năng lái xe hay vận hành máy móc.
Quá liều và cách xử lý
Quên liều và xử trí
- Khi bệnh nhân bỏ lỡ một liều Chloramphenicol succinate, nên dùng liều đó ngay lập tức khi phát hiện.
- Tuy nhiên, nếu thời điểm dùng liều tiếp theo đã cận kề, bệnh nhân cần bỏ qua liều đã quên và tiếp tục lịch trình dùng thuốc bình thường.
- Tuyệt đối không sử dụng liều gấp đôi để bù cho liều đã bỏ lỡ.
Quá liều và xử trí
Quá liều và độc tính
- Các dấu hiệu của tình trạng quá liều bao gồm thiếu máu, nhiễm toan chuyển hóa, thân nhiệt giảm và huyết áp thấp.
Cách xử lý khi quá liều Chloramphenicol succinate
- Việc xử trí nên tập trung vào điều trị hỗ trợ triệu chứng sau khi thực hiện rửa dạ dày.
Nguồn tham khảo
Go.drugbank.com
Sanford Guide: Chloramphenicol
Uptodate: Chloramphenicol: https://www.uptodate.com/contents/chloramphenicol-drug-information?search=Chloramphenicol%20succinate%20&source=search_result&selectedTitle=1~86&usage_type=default&display_rank=1#F50992089
Dược thư Quốc gia Việt Nam 2015

