Xuyên luyện tử là dược liệu có tính độc, vị chua và đắng, được ứng dụng trong y học cổ truyền để điều trị nhiều bệnh lý như đau dạ dày, viêm gan, bệnh giun đũa. Theo y học hiện đại, xuyên luyện tử cũng đã được nghiên cứu về tác dụng chống ung thư, diệt ấu trùng, kháng virus và ức chế phản ứng viêm đường hô hấp. Tuy nhiên, do tính độc của loài cây này, cần lưu ý khi sử dụng và tuân theo liều lượng, cách dùng phù hợp để đảm bảo an toàn.
Tìm hiểu chung về Xuyên luyện tử
Tên gọi, danh pháp
- Tên Việt Nam: Xuyên luyện tử.
- Các tên gọi địa phương khác: Sầu đông tử, Khổ luyện tử, Xoan quả trắng, Sầu đâu tử, Xoan quả to.
- Danh pháp khoa học: Melia azedarach L., thuộc họ Xoan (Meliaceae).
- Cần lưu ý rằng một số tài liệu y học cổ truyền nhầm lẫn xuyên luyện tử với quả của cây xoan đào (Fructus Toosendan), tuy nhiên theo các ghi chép y văn Trung Quốc, xuyên luyện tử thực chất là quả của cây xoan.
Đặc điểm tự nhiên
- Cây xoan là loài thực vật quen thuộc trong cảnh quan Việt Nam, đạt chiều cao trưởng thành từ 7 đến 12m. Hoa cây xoan có năm cánh, sắc tím nhạt hoặc tím hoa cà, mọc thành từng chùm với mùi thơm đặc trưng. Quả là loại hạch tròn, kích thước như một hòn bi, khi chín vỏ ngoài có màu vàng nhạt và không rụng sớm mà nằm lại trên cành suốt mùa đông, dần chuyển sang màu trắng.
- Lá cây xoan dài tới 15cm, sắp xếp rời rạc với cuống lá dài, có 2 đến 3 nhánh lá phức sắp xếp đối nhau; lá chét mặt trên màu xanh sẫm, mặt dưới xanh nhạt hơn, mép lá có răng cưa. Trong thực tiễn, lá xoan được ứng dụng như một chất trừ sâu tự nhiên để bảo vệ các loại hạt lương thực. Tuy nhiên, cả lá và trái xoan đều không thể tiêu thụ được do chứa các hợp chất độc hại.
- Lịch sử ghi nhận rằng nhựa cây cùng tinh dầu chiết từ lá và thân cây đã từng được sử dụng với mục đích giãn tử cung. Hoa xoan không có khả năng thu hút các loài ong bướm. Hạt xoan có hình tròn, chất cứng, trước đây được chế tác thành chuỗi tràng hạt và các sản phẩm thủ công trước khi vật liệu nhựa dẻo ra đời và thay thế hoàn toàn.
- Xuyên luyện tử có hình dạng cầu đặc trưng, đường kính khoảng 2 đến 3,2cm. Bề mặt thể hiện màu vàng đến vàng nâu, có độ bóng nhẹ, kèm theo các vết lõm, co rút và những điểm nâu sẫm nhô lên. Lớp da ngoài tạo ranh giới rõ rệt với phần thịt bên trong. Mô thịt xuyên luyện tử có tính mềm, sắc vàng nhạt và tính chất dính khi tiếp xúc với độ ẩm. Nhân quả có cấu trúc cầu hoặc bầu dục, chất cứng, với 6 đến 8 cạnh dọc rõ ràng, chia thành 6 đến 8 buồng riêng biệt, mỗi buồng chứa một hạt hình thuôn dài màu nâu đen.
Phân bố, thu hái, chế biến
Phân bố
- Cây xoan là loài mọc tự nhiên và được canh tác phổ biến ở nhiều vùng địa lý trong nước, bao gồm cả khu vực miền núi lẫn miền đồng bằng. Trong điều kiện miền đồng bằng, cây xoan thường phát triển với sức sinh trưởng mạnh mẽ hơn. Nông dân Việt Nam ưa trồng cây xoan nhờ tính chất dễ canh tác và tốc độ sinh trưởng nhanh chóng. Sau khoảng 6 đến 7 năm, cây xoan đã đủ tuổi để khai thác gỗ nhằm làm cột nhà và các vật dụng khác. Cây xoan có khả năng thích nghi tốt với nhiều loại nền đất như bãi cát, đất đồng bằng, đất đồi núi và nương rẫy.
Thu hái
- Tiêu chí lựa chọn xuyên luyện tử bao gồm kích thước to, hình dạng cầu đều đặn, kích thước dài 2,5 đến 4cm và rộng 2 đến 3cm. Quả cần có màu vàng nhạt, vỏ ngoài chắc, không có vết tích nấm mốc là những tiêu chuẩn chất lượng tốt.
Chế biến
- Để chuẩn bị xuyên luyện tử sử dụng, trước hết loại bỏ các tạp chất và giã nát chúng. Hoặc có thể cắt xuyên luyện tử thành những miếng dày hoặc nghiền nát, sau đó đưa vào nồi và nấu dưới lửa nhỏ. Sau khi nấu xong, xuyên luyện tử được lấy ra để nguội, khi đó màu sắc sẽ chuyển sang nâu.
Bộ phận sử dụng
- Phần được tận dụng trong y dược là quả.
- Do tính độc của loài cây này, nó chủ yếu được trồng với mục đích khai thác gỗ, vì gỗ xoan có khả năng chống chịu tấn công của mối mọt. Hoa và lá xoan cũng được ứng dụng rải dưới chiếu ngủ nhằm phòng chống sự xâm nhập của các loài côn trùng.
Thành phần hóa học
- Thành phần hóa học trong quả xuyên luyện tử bao gồm các hợp chất tetranortriterpen như toosendanin, malianol, melanotriol, melanodiol, 7-tricosanol, 1-cinamoylmelianolon, melianoninol cùng với catechin, lupeol, β-sitosterol, β-sitosteryl-3-O-glucoside, vanilin, acid cinamic, 1-cinamoyl-3,11-dihydroxymeliacarpin, meliatoxin A1, meliatoxin A2, meliatoxin B1, meliatoxin B2 — những hợp chất này đóng vai trò quan trọng trong các tác dụng dược lý của dược liệu.
- Ngoài các thành phần trên, xuyên luyện tử còn tích tụ alkaloid được gọi là araridin, cùng với hàm lượng đáng kể chất dầu (chiếm khoảng 60% tổng khối lượng). Chất dầu này chứa diêm sinh, là nguồn gốc của mùi tỏi đặc trưng của dược liệu.
- Thành phần cơ bản của xuyên luyện tử là một chất nhựa trung tính; tuy nhiên, cấu trúc hóa học và tính chất vật lý của nhựa này vẫn chưa được xác định ổn định hoàn toàn trong các nghiên cứu đến nay.
Công dụng của Xuyên luyện tử
Theo y học cổ truyền
Tính vị, quy kinh
- Xuyên luyện tử được ghi nhận có tính độc, vị chua và đắng, tính hàn theo các tài liệu y học cổ truyền.
- Dược liệu quy vào hai kinh Can và Đại trường.
Công năng, chủ trị
- Các công năng chính bao gồm tả thủy, thanh nhiệt, trừ thấp, chỉ thống và sát trùng.
- Trong lâm sàng, dược liệu được ứng dụng điều trị nhiều bệnh lý như đau dạ dày, bụng trướng kèm đau, đau sườn, sán thống, đau bụng giun, bệnh giun đũa, viêm gan, đau bụng kinh, sốt nóng hôn mê đau tim và các bệnh lý liên quan.
Theo y học hiện đại
Tác dụng chống ung thư
- Nghiên cứu năm 2013 của Kikuchi đã xác minh rằng hợp chất 12 – O – Acetylazedarachin B được chiết xuất từ xuyên luyện tử thể hiện độc tính tế bào mạnh mẽ đối với các dòng tế bào ung thư bạch cầu (HL-60) và ung thư dạ dày (AZ521).
- Công trình năm 2020 của nhóm tác giả Jeong và cộng sự đã báo cáo hợp chất 1 – cinnamoyltrichilinin từ xuyên luyện tử kích hoạt con đường p38, dẫn đến apoptosis và gia tăng sự phân mảnh hạt nhân cũng như hàm lượng DNA phân đoạn trong tế bào HL-60 (dòng tế bào bạch cầu ở bệnh nhân bạch cầu dòng tủy cấp tính).
- Một công trình khác từ nhóm Song và cộng sự năm 2022 đã ghi nhận hai hoạt chất Meliazedarachin K và Mesendanin N có mặt trong xuyên luyện tử gây độc tế bào đối với năm dòng tế bào ung thư khác nhau ở người.
Tác dụng diệt ấu trùng và ức chế phát triển côn trùng
- Nghiên cứu của Coria và cộng sự năm 2008 đã chứng minh chiết xuất từ quả và lá của cây xoan (xuyên luyện tử) sở hữu hoạt tính diệt ấu trùng, làm chậm lại đáng kể quá trình phát triển, đồng thời ức chế mạnh mẽ sự rụng trứng của muỗi vằn (Aedes aegypti).
Tác dụng kháng virus
- Công trình năm 2015 của Sanna và cộng sự đã chứng minh các limonoid (bao gồm 3-α-tigloyl-melianol và melianone) có trong xuyên luyện tử thể hiện hoạt tính kháng virus mạnh đối với ba mầm bệnh quan trọng thuộc họ Flaviviridae, cụ thể là virus West Nile, virus sốt xuất huyết và virus sốt vàng da. Các phát hiện này gợi ý xuyên luyện tử có tiềm năng làm tiền chất cho phát triển các thuốc mới trong điều trị các bệnh nhiễm trùng do Flavivirus gây ra.
Tác dụng ức chế phản ứng viêm đường hô hấp
- Một nghiên cứu của Pak và cộng sự năm 2023 đã ghi nhận hợp chất toosendanin trong xuyên luyện tử làm giảm số lượng tế bào viêm trong dịch rửa phế quản phế nang, giảm tình trạng tăng phản ứng đường hô hấp, ức chế sản sinh các cytokine tiền viêm và globulin miễn dịch E trong dịch rửa phế quản phế nang cũng như huyết thanh trên mô hình chuột bệnh hen phế quản. Kết quả giải phẫu bệnh lý cũng cho thấy tình trạng viêm phổi và tăng tiết chất nhầy được cải thiện đáng kể.
Tác dụng bảo vệ và chữa lành niêm mạc dạ dày
- Công trình năm 1984 của Moursi và cộng sự đã tiến hành đánh giá hiệu quả của xuyên luyện tử trên mô hình chuột bị loét dạ dày cấp tính được tạo ra bằng cách gây stress qua nhịn ăn 22 giờ, sau đó nhịn đói 24 giờ để đạt mức căng thẳng tối đa. Kết quả cho thấy xuyên luyện tử làm giảm chỉ số loét, lượng HCl tự do giảm đáng kể, chủ yếu do thành phần phytosterol có trong dược liệu.
Liều dùng và cách dùng Xuyên luyện tử
- Xuyên luyện tử được áp dụng trong các phương thuốc với liều lượng thường dao động từ 6 đến 8 gram, và trong thực hành lâm sàng thường được phối hợp cùng nhiều vị thuốc khác để tăng cường hiệu quả điều trị.
Bài thuốc kinh nghiệm
Trị đau âm đạo
- Xuyên luyện tử 9g, Đương quy 9g, Ô dược 9g, Trần bì 6g, Quế chi 6g, Chỉ xác 4,5g, Xuyên khung 4,5g, Tiểu hồi hương 3g, Tế tân 3g, Ngô thù du 3g. Sắc tất cả các vị thuốc với 1 lít nước cho đến khi còn khoảng 300ml, chia 3 lần trong ngày, uống khi nước thuốc còn ấm.
Chữa viêm dạ dày
- Xuyên luyện tử 10g, Sài hồ 12g, Hương phụ 12g, Diên hồ 12g, Chỉ xác 12g, Bạch linh 12g, Bạch thược 12g, Tô ngạnh 12g, Cam thảo 4g. Nếu có triệu chứng ợ chua nhiều, bổ sung Ngọa lăng tử và Ô tặc cốt; Nếu xuất hiện nôn hoặc cảm giác buồn nôn, bổ sung thêm Bán hạ, Trúc nhự và Gừng tươi.
Trị sỏi tiết niệu thể khí trệ huyết ứ
- Xuyên luyện tử 9g, Kim tiền thảo 30g, Hoạt thạch 15g, Xa tiền tử 15g, Hải kim sa 15g, Đào nhân 12g, Kê nội kim 12g, Xuyên khung 12g, Trạch tả 12g, Ngưu tất 12g, Hồng hoa 12g, Đương quy 12g, Đông quỷ tử 12g, Thạch vĩ 12g, Ô dược 9g, Cam thảo 5g.
- Sắc toàn bộ các thành phần liên tục trong vòng 7 ngày, mỗi ngày chuẩn bị 1 thang thuốc, chia thành 3 lần uống, mỗi lần dùng 1 bát, uống khi thuốc vẫn còn ấm, cách ăn trước hoặc sau 1 giờ. Trong trường hợp các triệu chứng không thấy cải thiện, cần tới cơ sở y tế để được khám xét toàn diện và điều trị thích hợp.
Trị bụng dưới đau
- Xuyên luyện tử 80g, Phụ tử 40g, Hồi hương 80g cùng với 300ml rượu. Thực hiện chưng chín, sau đó sấy khô và tán thành bột mịn. Kết hợp với Diên hồ 20g, Toàn yết 18 con, Đinh hương 18 cái, tán nhuyễn hoàn toàn. Trộn lẫn toàn bộ hỗn hợp với rượu hồ để tạo thành viên thuốc. Liều dùng hàng ngày là 12 đến 16g, uống cùng với rượu ấm.
Trị đau dịch hoàn (sán khí)
- Xuyên luyện tử, Nga truật, Phá cố chỉ, Sơn thù, Chích thảo, Lệ chi hạch, Thông thảo, Quất hạch, Tam lăng, Thanh diêm, Tiểu hồ lượng bằng nhau, Chích thảo giảm nữa liều. Sắc chung tất cả các vị, uống lúc dạ dày rỗng.
Chữa ngực bụng đầy đau, ợ chua
- Xuyên luyện tử 6g, Câu kỷ tử 24g, Sinh địa 20g, Bắc sa sâm 12g, Mạch đông 12g, Đương quy 12g. Sắc uống.
- Xuyên luyện tử 8g, Sinh địa 20g, Đương quy 14g, Bắc sa sâm 14g, Mạch đông 12g, Câu kỷ tử 12g. Sắc uống.
Lưu ý khi dùng Xuyên luyện tử
- Toàn bộ các bộ phận của cây xoan đều mang tính chất độc hại đối với con người khi được tiêu thụ vô tình hoặc cố ý. Nguyên nhân chính của độc tính này là sự hiện diện của các hợp chất gây rối loạn thần kinh như tetranortriterpen cùng với các tinh dầu và nhựa chưa được xác định rõ ràng, trong đó nồng độ độc chất tập trung cao nhất ở phần quả. Mặc dù một số loài chim hoang dã có khả năng tiêu hóa quả xoan và đóng vai trò quan trọng trong quá trình phân tán hạt giống khi chúng rơi xuống đất, nhưng chỉ cần lượng hạt xoan khoảng 15 gram là có thể gây tử vong cho một con lợn có khối lượng 22 kg.
- Các biểu hiện ngộ độc thường bắt đầu xuất hiện trong vòng vài giờ sau khi tiếp xúc với chất độc. Những triệu chứng lâm sàng bao gồm mất cảm giác vị, buồn nôn, rối loạn tiêu hóa dưới dạng táo bón hoặc tiêu chảy kèm máu, tổn thương mô niêm mạc dạ dày, viêm đường hô hấp, suy giảm chức năng tim và các biểu hiện toàn thân khác. Tử vong có thể xảy ra trong khoảng thời gian khoảng 24 giờ từ khi phát bệnh.
Nguồn tham khảo
Đỗ Tất Lợi (2004). Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam. Nhà xuất bản Y học, Hà Nội.
Viện dược liệu. Cây thuốc và động vật làm thuốc Việt Nam. Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật Hà Nội.
Melia azedarach L. reduces pulmonary inflammation and mucus hypersecretion on a murine model of ovalbumin exposed asthma: https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/37979816/
1-Cinnamoyltrichilinin from Melia azedarach Causes Apoptosis through the p38 MAPK Pathway in HL-60 Human Leukemia Cells: https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/33053881/
Limonoids from Melia azedarach Fruits as Inhibitors of Flaviviruses and Mycobacterium tubercolosis: https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/26485025/

