Dược liệu Qui giáp và qui bản, hay còn gọi là mai rùa và yếm rùa, là một phần quan trọng của y học cổ truyền, với công dụng dưỡng âm, bổ thận, và ức chế dương hư. Bài viết sẽ tìm hiểu về đặc điểm, thành phần hóa học, công dụng, và cách dùng của dược liệu này, cũng như lưu ý khi sử dụng để mang lại hiệu quả tốt nhất cho sức khỏe.
Tìm hiểu chung về Qui giáp và qui bản
Tên gọi, danh pháp
- Tên Việt: Qui giáp và qui bản.
- Tên gọi khác: Mai rùa và yếm rùa.
- Danh pháp khoa học: Carapax et Plastrum Testudinis.
Đặc điểm tự nhiên
- Quần thể rùa trên toàn cầu thể hiện sự đa dạng kích thước đáng kể, từ những cá thể nhỏ bé chỉ khoảng 11 cm cho đến những loài khổng lồ đạt 185 cm, với một số loài có thể sở hữu khối lượng gần một tấn.
Đặc điểm mai rùa và yếm rùa
- Mặc dù nhiều nhóm động vật khác nhau — từ vô xương sống đến động vật có vú — đều sở hữu vỏ tiến hóa, nhưng kiến trúc mai rùa lại độc nhất vô nhị. Cấu trúc này bao gồm hai phần chính: phần lưng trên gọi là mai và phần bụng dưới gọi là plastron.
- Các loài rùa khác nhau thể hiện biến dị kích thước đáng chú ý khi đo chiều dài mai theo tiêu chuẩn phân loại: một số loài như rùa xạ hương dẹt (Sternotherus depressus) có chiều dài dưới 10 cm (4 inch), trong khi loài rùa da (Dermochelys coriacea) vượt quá 1,5 mét (4,9 feet).
- Yếm rùa (plastron) thể hiện dạng phiến tấm có hình bầu dục hoặc hình chữ nhật kéo dài, với kích thước rộng 5,5 – 17 cm và dài 6,4 – 21 cm. Bề mặt ngoài của yếm mang màu nâu vàng nhạt đến nâu đậm, được tạo thành từ 12 tấm sừng khối, mỗi tấm có các vân chạy theo kiểu tia sạ với sắc tía nâu. Bề mặt trong lộ ra màu trắng vàng cho đến trắng tro, thường còn có dấu vết máu hoặc mô thịt còn sót.
- Xương mai và xương sống là những bộ phận xương cấu trúc thường được nối kết liên tục dọc theo hai bên thân thể, hình thành một khung xương chắc chắn. Khung này, được cấu thành từ xương và sụn, được giữ nguyên trong toàn bộ vòng đời của rùa. Do mai là một phần tích hợp trong cơ thể nên rùa không có khả năng tách khỏi mai, và không giống như một số bò sát khác, mai cũng không bị thay thế hay rụng theo thời gian.
Môi trường sống
- Các loài rùa khác nhau đã thích nghi với những điều kiện sinh thái rất khác biệt: một số loài cư trú ở vùng khí hậu lạnh theo mùa nơi mùa sinh trưởng chỉ kéo dài khoảng ba tháng; những loài khác lại sinh sống ở vùng nhiệt đới và duy trì sự phát triển liên tục quanh năm. Về mặt môi trường nước, một số loài rùa cạn hiếm khi tiếp xúc với nước, trong khi những loài thủy sinh khác dành phần lớn hoặc toàn bộ cuộc đời trong nước, có thể ở một ao nhỏ đơn lẻ hoặc di cư khắp những đại dương rộng lớn.
Sinh sản
- Toàn bộ các loài rùa đều có đặc tính đẻ trứng trên cạn và không thể hiện bất kỳ hành vi chăm sóc con cái nào từ cha mẹ. Tuy nhiên, bên cạnh sự giống nhau cơ bản này, lại tồn tại một phổ rộng các hành vi sinh sản, niche sinh thái và đặc điểm sinh lý riêng biệt.
Phân bố, thu hái, chế biến
Phân bố
- Rùa được tìm thấy phân tán trên toàn bộ các lục địa và các đại dương trên thế giới, chỉ trừ khu vực Nam Cực. Hiện nay, số lượng loài rùa vượt quá 300, được phân loại vào khoảng 90 chi thuộc 13 họ khác nhau. Trong hồ sơ hóa thạch, rùa đã xuất hiện từ hơn 200 triệu năm trước, vượt qua thời gian sớm hơn so với sự xuất hiện của các động vật có vú hiện đại và các dạng bò sát ngày nay.
- Mặc dù rùa đã thích nghi thành công với nhiều loại môi trường khác nhau, nhưng mật độ loài cao nhất tập trung ở đông nam Bắc Mỹ và Nam Á. Ở cả hai khu vực này, phần lớn các loài có tính thủy sinh, sinh sống trong các dạng môi trường nước đa dạng, từ ao nhỏ, đầm lầy cho đến hồ nước và hệ thống sông lớn. Một số ít loài là rùa cạn sống trên đất liền, trong khi những loài khác phân chia thời gian sống giữa cả hai môi trường đất và nước.
Thu hái – Chế biến
- Qui giáp và qui bản được nuôi trồng thủy sản tập trung ở Chiết Giang, Quảng Đông và các tỉnh khác tại Trung Quốc, trong đó quá trình chế biến bắt đầu bằng việc tước bỏ các lớp vỏ sau khi rùa được bắt và mổ xẻ.
- Tiếp theo đó, các bộ phận được đem phơi khô, sau đó đập nhỏ và đun nấu cùng nước liên tục ba ngày ba đêm theo phương pháp nấu cao tương tự như nấu cao ban long. Dung dịch được lọc để loại bỏ cặn, nước lọc sau đó được đem cô đặc, đổ vào các khuôn định hình, để nguội tự nhiên rồi cắt thành các miếng có kích thước tùy ý.
Bộ phận sử dụng
- Sau khi rùa được bắt, các bộ phận được luộc qua nước nóng, sau đó bóc tách lấy mai và yếm, cạo sạch toàn bộ mô thịt còn dính, rồi đem phơi khô hoàn toàn.
Thành phần hóa học
- Qui giáp và qui bản chứa các thành phần chính gồm chất keo, chất béo, muối và canxi. Các hoạt chất khác vẫn còn chưa được xác định rõ ràng trong các nghiên cứu hiện tại.
- Khi tiến hành thủy phân Qui giáp và qui bản rùa, các axit amin sau đây được phát hiện: glycocole 19,36%; alanin 2,95%; leuxin 3,6%; tyrosin 13,59%; xystin 5,19%; axit glutamic; histidin; lysin; acginin. Tryptophan không được ghi nhận trong thành phần này.
Công dụng của Qui giáp và qui bản
Theo y học cổ truyền
Tính vị, quy kinh
- Vị Ngọt, mặn và tính lạnh.
- Quy vào kinh Tâm, Can, Thận, Tỳ.
Công năng, chủ trị
- Hội chứng gan thận thiếu âm: Dược liệu được áp dụng cho các tình trạng âm hư dương thịnh, phong hàn nội sinh, âm hư nội nhiệt xuất phát từ gan thận âm hư, nhờ khả năng dưỡng âm gan thận và ức chế dương hư di chuyển lên trên cơ thể.
- Chứng chóng mặt, mắt mờ, mắt đỏ bừng và nóng nảy dễ mất kiểm soát: Áp dụng cho các trường hợp do âm dương gan thận mất cân bằng, gan dương bốc hỏa lên trên, thường được phối hợp cùng các vị thuốc dưỡng âm, bổ dương, ích khí.
- Thiếu âm có gió khuấy: Dùng cho chứng thiếu âm do sốt hoặc do bệnh lâu ngày, được kết hợp với các vị thuốc dưỡng âm và dưỡng gan.
- Chứng hấp xương, sốt triều, đổ mồ hôi ban đêm, di tinh: Do tình trạng âm hư, được phối hợp với các vị thuốc dưỡng âm và hạ sốt.
- Teo xương do thiếu thận: Dược liệu có khả năng bổ thận và tăng cường gân xương. Đối với suy dinh dưỡng gân xương, teo thắt lưng và đầu gối mềm nhũn, không lực hoặc chậm biết đi, thóp chậm đóng do gan thận thiếu hụt, được kết hợp với các vị thuốc bổ gan thận và cường gân cốt.
- Đau bụng kinh, rối loạn nhịp tim và lượng máu kinh nhiều: Dược liệu có tác dụng bồi bổ gan và thận, tăng cường đường đi và mạch thụ thai, đồng thời phát huy khả năng cầm máu. Qui giáp và qui bản thường được chỉ định cho đau bụng kinh, huyết hư và lượng máu kinh nhiều do huyết nhiệt thiếu âm, thông kinh mạch và thụ thai không an toàn, nhờ tính mát và lạnh của dược liệu. Thường được kết hợp với các loại thảo mộc dưỡng âm, thanh nhiệt và cầm máu.
- Hồi hộp, mất ngủ và hay quên: Dược liệu có tác dụng dưỡng âm bổ huyết, bổ tâm can để an thần. Đối với hồi hộp, mất ngủ và hay quên do thiếu âm huyết, suy dinh dưỡng của tim, được kết hợp với các vị thuốc an thần và tăng cường ý chí.
Theo y học hiện đại
- Được sử dụng trong điều trị các triệu chứng đầy hơi, chóng mặt.
- Ứng dụng trong chữa suy nhược thần kinh và lao phổi.
- Hỗ trợ điều trị đau nhức mỏi ở chân tay, lưng gối.
- Thể hiện tác dụng an thần, giải nhiệt và bổ huyết theo các ghi nhận lâm sàng.
Liều dùng và cách dùng Qui giáp và qui bản
- Qui giáp và qui bản được dùng với liều 12 – 24 g mỗi ngày, có thể dùng dưới các dạng sắc, viên hoặc bột.
- Cao qui bản được dùng với liều 10 – 15 g mỗi ngày, chia thành 3 lần uống.
Bài thuốc kinh nghiệm
Bài thuốc bổ chữa bệnh ho lâu ngày
- Lấy qui bản 100 g tiến hành sao cùng với cát cho đạt trạng thái giòn rụa, sau đó nghiền thành bột mịn. Đảng sâm 100 g cũng được sao thơm và nghiền thành bột mịn tương tự. Trộn đều hai vị thuốc, dùng hàng ngày 3 lần mỗi lần lấy 1 – 2 g.
Bài thuốc kinh nghiệm chữa sốt rét lâu ngày
- Chuẩn bị qui bản 200 g, sao cho vàng giòn rồi nghiền bột mịn; hùng hoàng 50 g cũng nghiền bột; hà thủ ô 200 g giữ nguyên. Trộn đều tất cả các thành phần rồi thêm mật ong vừa đủ để tạo thành viên kích thước 0,30 g. Cách dùng: mỗi ngày từ 5 – 10 g chia thành 3 lần uống trong suốt ngày.
Bài thuốc trị phụ nữ kinh nguyệt ra quá nhiều, kéo dài, rong kinh
- Sử dụng qui bản (được tẩm giấm nướng hoặc dùng dạng cao), hoàng cầm, bạch thược, thung căn bì, hoàng bá. Nghiền thành bột, trộn với mật ong để tạo viên, uống cùng nước giấm pha loãng (theo Qui bản Hoàn – Thẩm Thị Tôn Sinh Thư).
- Hoặc lấy qui bản, hoàng cầm, bạch thược mỗi loại 40 g, hoàng bá 12 g, chế hương phụ 10 g. Nghiền bột rồi tạo viên. Mỗi lần dùng 10 – 15 g, ngày 3 lần.
Bài thuốc chữa nóng trong xương, lao nhiệt, sốt về chiều, mồ hôi trộm
- Hoàng bá và tri mẫu mỗi loại 16 g, thục địa và qui bản mỗi loại 24 g. Nghiền thành bột. Thêm tủy xương heo và mật ong để tạo viên. Mỗi lần uống 8 – 12 g, ngày 2 lần, uống cùng nước gừng hoặc nước muối nhạt, lúc dạ dày trống.
Trị suy nhược thần kinh
- Qui bản, đương quy, bạch thược và sài hồ mỗi loại 12 g, gừng tươi 3 lát, bạch linh và bạch truật mỗi loại 10 g, cam thảo 4 g và bạc hà 8 g. Đem sắc uống.
Bài thuốc kinh nghiệm chữa di tinh, mộng tinh
- Cao qui bản 10 g, thục địa 16 g, hoài sơn 12 g, phá cố chỉ 8 g (sao với rượu), thỏ ty tử 8 g (sao), rau má 8 g, vỏ rễ cây đơn đỏ 6 g, khiếm thực 6 g (sao).
- Tiến hành hơ nóng cao qui bản cho chảy ra, trong khi đó thục địa được giã nhuyễn. Các dược liệu còn lại phơi khô rồi nghiền bột mịn, sau đó trộn đều với 2 vị này. Tiếp theo, thêm mật ong vừa đủ để tạo thành viên nặng 2 g. Cách dùng: mỗi ngày uống 10 viên, chia làm 2 lần.
Lưu ý khi dùng Qui giáp và qui bản
- Những người có tỳ vị hư hàn hoặc thể trạng âm hư mà không có biểu hiện nhiệt nên tránh sử dụng dược liệu này, vì có nguy cơ làm suy yếu thêm chức năng tiêu hóa hoặc tạo ra các triệu chứng không mong muốn.
- Phụ nữ trong giai đoạn thai kỳ cần cân nhắc cẩn thận trước khi sử dụng, nên tham khảo ý kiến chuyên gia y học trước.
- Khi áp dụng dạng sắc nước, cần sắc qui bản riêng trước, sau đó mới thêm các dược liệu khác vào để đảm bảo hiệu quả tối ưu.
Nguồn tham khảo
https://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S0102695X17307433
https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC7799659/
https://www.britannica.com/animal/turtle-reptile/Origin-and-evolution
https://suckhoedoisong.vn/quy-ban-va-cao-quy-ban-16993891.htm

