Đại tướng quân là dược liệu có tên khoa học Crinum asiaticum L., được sử dụng để điều trị các bệnh về xương khớp, đường tiết niệu và bệnh ngoài da. Với tính vị đắng, mát, đại tướng quân có khả năng long đờm, bổ, nhuận tràng và giảm đau. Tuy nhiên, cần lưu ý khi sử dụng do có độc tính, có thể gây buồn nôn, nôn mửa và các phản ứng không mong muốn khác.
Tìm hiểu chung về Đại tướng quân
Tên gọi, danh pháp
- Tên Tiếng Việt: Đại tướng quân
- Tên gọi khác: Náng hoa trắng, Chuối nước, Tỏi voi, Cây náng, Văn châu lan, Luộc lài, Cáp gụn (Tày), Co lạc quận, Văn thù lại, Lá náng, Thập bát học sĩ (Quảng Châu Trung Quốc)
- Danh pháp khoa học: Crinum asiaticum L. thuộc Họ Amaryllidaceae (Thủy tiên)
Đặc điểm tự nhiên
- Đại tướng quân là loài thảo dược có cấu trúc hành điển hình, hành chính (thân ngầm) phát triển khá lớn, hình cầu hoặc hình trứng kéo dài, đường kính có thể đạt 10 cm trở lên, phần đầu hành co lại thành cổ dài 12 – 15 cm hoặc dài hơn.
- Lá mọc thẳng từ hành chính, có hình bản dài, phiến lá dày, chiều dài 1 m hoặc vượt quá, chiều rộng 5 – 10 cm, số lượng nhiều, tập trung ở vùng gốc. Phiến lá hình mác kéo dài, mặt trên lõm sâu thành rãnh đặc trưng, mép lá nguyên, kích thước từ 1 – 1,2 m chiều dài và 5 – 10 cm chiều rộng. Phần góc lá có bẹ rộng, đầu nhọn, mép nguyên uốn lượn, gân sắp xếp song song, gân chính nổi rõ ở mặt dưới, hai mặt lá mang sắc lục nhạt.
- Cụm hoa hình tán mọc giữa túm lá. Cụm hoa được mang trên cán hoa mập, dẹp, dài 40 – 60 cm, đường kính tương đương ngón tay. Cụm hoa gồm 6 đến 12 bông hoa màu trắng, kích thước lớn, có mùi thơm dễ chịu vào chiều tối, bao hoa ở dạng ống hẹp màu lục dài 8 – 10 cm. Hoa có ống mảnh màu lục, các phiến hoa tương đồng nhau. Lá đài và cánh hoa hình dáng giống nhau, hình dáng dài thuôn hẹp. Nhị số 6, thòi ra ngoài, chỉ nhị mang sắc đỏ tía; bầu dạng thoi.
- Quả nang, gần hình cầu, đường kính 3 – 5 cm, có một ngăn và một hạt.
Sinh thái
- Cây mọc hoang dại ở những vùng ẩm ướt, dựa sát các kênh rạch; ngoài ra thường được trồng làm cây cảnh; người dân thường tách hành con để nhân giống. Mùa hoa và quả: tháng 6 – 8.
Phân bố, thu hái, chế biến
- Chi Crinum L. có khoảng 165 loài phân tán trên toàn cầu, phân bố rộng rãi ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới (ghi nhận ở Ấn Độ, Inđônêxia). Tại Việt Nam, chi này được ghi nhận có 8 loài.
- Cây đại tướng quân mọc hoang ở các địa điểm ẩm ướt khắp lãnh thổ Việt Nam, chẳng hạn như chân núi đá vôi hoặc các bãi hoang ven vùng ven biển, và đôi lúc được đem về trồng làm cây cảnh do một số loài có hoa đẹp và thơm. Hoa màu trắng tinh khôi, có mùi thơm vào chiều tối và đêm khuya.
- Đại tướng quân chủ yếu được khai thác lấy lá và phần hành để làm thuốc, thường được sử dụng ở trạng thái tươi. Người dân thu hái và sử dụng ngay mà không cần qua bất kỳ bước chế biến nào.
Bộ phận sử dụng
- Toàn thân cây. Tuỳ theo mục đích điều trị, người ta thu hái các bộ phận khác nhau, có thể thu hái quanh năm, dùng tươi hoặc phơi khô.
Thành phần hóa học
- Các phần của cây, đặc biệt là hành chứa hoạt chất lycorin. Rễ tích tụ alcaloid, narcissin (lycorin), vitamin và các hợp chất kiềm mang mùi hôi đặc trưng của tỏi. Hạt giàu lycorin và crinamin — hai alcaloid quan trọng.
- Theo kết quả phân tích (H2) Thành phần hóa học thực hiện trên mẫu đại tướng quân ở Việt Nam, các alcaloit được phát hiện phân bố khắp các mô (lá, hoa, dò và quả) của cây (Đỗ Tất Lợi, Ngô Vân Thu và Phạm Xuân Cù, 1963).
Công dụng của Đại tướng quân
Theo y học cổ truyền
- Hành của đại tướng quân mang vị đắng; được ghi nhận có công năng bổ, nhuận tràng, long đờm. Rễ tươi kích thích phản xạ nôn, gây cảm giác mửa và thúc đẩy tiết mồ hôi. Hạt phát huy tác dụng tẩy, lợi tiểu và điều hòa kinh nguyệt. Lá có khả năng long đờm hiệu quả.
- Trong hệ thống y học Đông phương, đại tướng quân được xem xét với vị cay, tính mát, có độc tính, sở hữu tác dụng thông huyết, tán ứ, tiêu sưng và giảm đau. Riêng hành của cây thể hiện vị cay đắng hôi, tính nóng; có khả năng khử phong tán hàn, giải độc và tiêu sưng.
Theo y học hiện đại
- Thân hành và náng hoa trắng mang đặc tính đắng, nhuận tràng và long đờm, được áp dụng trong điều trị đa tiết mật, đái són đau và các rối loạn chức năng tiết niệu khác. Thân hành tươi gây buồn nôn và nôn mà không kèm theo đau bụng hoặc tẩy. Thân hành cũng phát huy tác dụng kích thích tiết mồ hôi.
- Lá thể hiện hoạt tính long đờm và kháng viêm rõ rệt. Cao chiết bằng nước, methanol và alcaloid toàn phần từ lá, thân và rễ náng hoa trắng đều ức chế được sự phân bào của rễ hành ta, trong đó cao methanol cho hiệu lực vượt trội so với cao nước. Alcaloid toàn phần biểu hiện hoạt tính cực mạnh.
- Hạt có tác dụng tẩy và lợi niệu.
- Thân hành mang độc tính, do đó khi sử dụng cần tuân thủ nguyên tắc cẩn trọng.
- Toàn cây được ứng dụng trong điều trị:
- Viêm họng, đau răng
- Đinh nhọt, viêm mủ da, loét ở móng, ở bàn chân
- Đòn ngã tổn thương, đau các khớp xương
- Rắn cắn: Dùng hàng ngày 3 – 10 g, dạng sắc thuốc. Dùng ngoài bằng cách giã cây tươi để đắp lên vết thương
- Ở Ấn Độ, hành của cây được vận dụng để trị thiếu mật và các rối loạn đường tiết niệu. Lá được đắp để trị bệnh ngoài da và làm tan sưng hiệu quả.
Liều dùng và cách dùng Đại tướng quân
- Để xử lý bong gân, sưng đau do té ngã hoặc gãy xương, cộng đồng dân gian sử dụng cây đại tướng quân bằng cách hơ nóng rồi đắp và bóp vào các vùng cơ xương bị tổn thương. Ngoài ra, phương pháp xoa bóp cây này được áp dụng khi bị tê thấp, nhức mỏi. Không ghi nhận dùng đường uống trong phương pháp này.
- Ở Ấn Độ, phương pháp ép lấy nước từ củ pha loãng để gây nôn được áp dụng rộng rãi; với liều nhỏ sẽ tạo ra hiệu ứng buồn nôn và ra mồ hôi. Phương pháp chuẩn bị gồm giã nát củ tươi, trộn với 4 phần nước sau đó ép lấy nước, sử dụng 8 đến 16g mỗi lần cho đến khi nôn được, có thể áp dụng cho cả người lớn và trẻ nhỏ với lưu ý theo dõi tình trạng ngộ độc. Nếu gặp khó khăn khi uống có thể thêm đường để tăng khả năng dùng.
- Ở Madagascar, thân hành được đắp để trị áp xe, mụn nhọt, và dịch ép lá được nhỏ vào tai để điều trị đau tai.
- Ngoài loài đại tướng quân, loài náng hoa đỏ cũng thường được sử dụng với công dụng tương đương.
Bài thuốc kinh nghiệm
Chữa sai khớp, bong gân (Hải Thượng Lãn Ông):
- Lấy các dược liệu gồm: Lá đại tướng quân, mủ xương rồng bà, lá thầu dầu tía, quế, hồi hương, vỏ núc nác, gừng sống, lá canh châu, lá dây đau xương, đinh hương, vỏ sồi, lá kim cang, lá mua, huyết giác, củ nghệ, hạt trấp, hạt máu chó, lá bưởi bung, lá tầm gửi cây khế (trong trường hợp có phù nề cơ thì loại bỏ lá đau xương, bổ sung giấm). Tiến hành rửa sạch toàn bộ dược liệu, sau đó giã nát, hâm nóng bằng phương pháp sao và áp dụng chườm nóng lên vị trí tổn thương. Tiếp tục điều trị đều đặn cho đến khi các triệu chứng sai khớp và bong gân được cải thiện đáng kể.
- Chuẩn bị thành phần: Lá đại tướng quân 10 – 20g, lá dây đòn gánh 10g, lá bạc thau 8g. Rửa sạch các dược liệu, giã nhỏ và trộn cùng rượu. Tiến hành nướng nóng hỗn hợp rồi dán nóng lên vị trí tổn thương. Áp dụng mỗi ngày một lần, duy trì liên tục cho đến khi triệu chứng sưng đau xương khớp được cải thiện.
Chữa thấp khớp, sai gân, bong gân, tụ máu:
- Chuẩn bị: Đại tướng quân 30g, dạ cẩm 20g, mua thấp 30g. Rửa sạch dược liệu, giã mịn rồi áp dụng đắp lên vị trí cơ xương tổn thương. Thực hiện mỗi ngày một lần, tiếp tục đều đặn cho đến khi các triệu chứng sưng đau xương khớp được cải thiện.
- Chuẩn bị: Đại tướng quân 30g, lá sỉ 20g, lá sở 20g. Rửa sạch dược liệu, giã nhuyễn rồi hòa trộn với lòng trắng trứng gà, đắp lên vị trí cơ xương bị tổn thương sau đó cố định bằng băng. Thay băng cách ngày một lần, duy trì đều đặn cho đến khi triệu chứng sưng đau xương khớp được cải thiện.
Gây nôn, toát mồ hôi, long đờm:
- Lấy hành cây đại tướng quân tươi, ép lấy dịch, pha loãng với nước rồi dùng.
Mụn nhọt, rắn cắn, bệnh ngoài da, trĩ ngoại:
- Sử dụng lá đại tướng quân tươi, giã nát rồi đắp trực tiếp lên vị trí cơ xương bị tổn thương, hoặc ép lấy nước uống.
Lưu ý khi dùng Đại tướng quân
- Cần chú ý rằng tiếp xúc hoặc sử dụng hành của đại tướng quân (đặc biệt là uống nước ép chưa pha loãng) có thể gây ra các phản ứng không mong muốn bao gồm buồn nôn, nôn mửa, đau vùng bụng, tiêu chảy, tăng nhịp tim, rối loạn nhịp hô hấp và sốt cao. Khi xuất hiện những triệu chứng này, cần tiến hành giải độc bằng cách uống nước trà đặc hoặc dung dịch acid tannic nồng độ 1 – 2%, hoặc uống nước đường hay nước muối loãng. Ngoài ra, có thể dùng giấm pha với nước gừng theo tỷ lệ 2:1 cho bệnh nhân uống. Tiếp tục cho người bị ngộ độc uống các chất này cho đến khi các triệu chứng ngộ độc được cải thiện rõ rệt.
Nguồn tham khảo
Từ điển cây thuốc Việt nam – Võ Văn Chi.
Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi.
Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam (Tập 1).
https://tracuuduoclieu.vn/nang-hoa-trang.html

