Củ hồi là dược liệu có vị cay, tính ôn, với công dụng khứ hàn, lý khí, chỉ thống và khai vị. Dược liệu này được ứng dụng trong điều trị các chứng bệnh như đầy bụng, nôn ăn, thoát vị bẹn, sa tinh hoàn và thống thận. Củ hồi cũng có thể được sử dụng để điều hòa kinh nguyệt, bổ thận và tráng dương. Tuy nhiên, nên lưu ý về cách sử dụng và liều lượng phù hợp để tránh tác dụng phụ.
Tìm hiểu chung về Củ hồi
Tên gọi, danh pháp
- Tên Tiếng Việt: Củ hồi.
- Tên gọi khác: Fennel; củ hồi; củ hồi hương.
- Danh pháp khoa học: Foeniculum vulgare.
- Căn cứ vào phân loại thực vật, quả chín được phơi hay sấy khô của loài Tiểu hồi (danh pháp khoa học: Foeniculum vulgare) chính là dược liệu được gọi là Củ hồi. Đây là một loài thực vật có hoa thuộc họ Hoa tán (Apiaceae).
Đặc điểm tự nhiên
- Quả mang cấu trúc bế đôi, hình dạng trụ với độ cong nhẹ, kích thước dài 4 – 8 mm, đường kính 1,5 – 2,5 mm. Bề mặt ngoài có màu xanh nhạt chuyển sang vàng nhạt hoặc vàng, hơi nhọn dần về hai đầu quả, phần đỉnh có chân vòi nhụy nổi cao với màu nâu vàng, và thường có cuống quả nhỏ tại phần gốc. Trên mỗi mặt lưng của quả có 5 gân nổi rõ rệt, mép tiếp xúc giữa hai nửa quả phẳng và rộng. Tiết diện ngang có hình 5 cạnh, bốn mặt của vùng lưng gần như đồng đều. Mùi hương đặc trưng thơm ngọt, vị cảm nhận hơi ngọt kết hợp với cay nhẹ.
Phân bố, thu hái, chế biến
- Trên toàn cầu: Chi Foeniculum ghi nhận chỉ có 1 loài nhưng chia thành 2 phân loài (subspecies) là dạng hoang dại (piperitum) và dạng canh tác (vulgare). Tiểu hồi có gốc gác ở vùng Nam Âu – Địa Trung Hải, sau này được nhân rộng canh tác tại nhiều quốc gia toàn thế giới như Ấn Độ, Trung Quốc, Ai Cập, Mỹ. Tại khu vực Đông Nam Á, Tiểu hồi hiện chỉ được ghi nhận trồng ở khu vực miền núi phía đông của đảo Java (Indonesia) và phía Bắc Việt Nam.
- Tại Việt Nam, Tiểu hồi được đưa vào trồng từ một số quốc gia Đông Âu và Liên Xô cũ (giai đoạn 1969 – 1975), tuy nhiên sau này giống đã bị thất lạc. Đến năm 1992 mới được nhập giống lại từ Nhật Bản. Hiện nay cây được canh tác ở Sa Pa (Lào Cai) và Đà Lạt (Lâm Đồng), với quy mô canh tác còn khiêm tốn.
- Thu hái được tiến hành khi quả đạt độ chín (quả bắt đầu chuyển sang màu nâu) vào mùa thu. Sau khi thu hái, để quả tại nơi thoáng khí cho quá trình chín hoàn toàn diễn ra. Với những quả đã hoàn toàn chuyển sang màu nâu, tiến hành thu hái toàn bộ và buộc thành từng bó. Tiếp đó sử dụng chày gỗ đập để tách vỏ quả và lấy hạt.
- Chế biến – Diêm tiểu hồi (Chế muối): Hòa tan muối vào lượng nước phù hợp, trộn đều với dược liệu, để cho muối ngấm hết vào dược liệu, sau đó cho vào nồi nướng với lửa nhỏ cho đến khi quả chuyển sang màu hơi vàng, lấy ra để nguội. Tỷ lệ: 10 kg Tiểu hồi cần 0,2 kg muối.
- Bảo quản dược liệu phải ở nơi thoáng khí, mát mẻ và khô ráo.
Bộ phận sử dụng
- Bộ phận dùng làm thuốc là quả chín.
Thành phần hóa học
- Quả chứa một hàm lượng tinh dầu đáng kể (2 – 6%). Thành phần tinh dầu bao gồm 50 – 60% anethol, estragol, các hydrocarbon terpen, cùng với một ceton terpen là fenchon. Ngoài ra còn chứa các vitamin nhóm A, B8, B9, C và các yếu tố khoáng chất C, Ca, P, K, S, Fe. Bộ phận rễ có chứa 0,3% chất béo.
Công dụng của Củ hồi
Theo y học cổ truyền
- Theo các ghi chép y học cổ truyền, Củ hồi mang vị cay, tính ôn, quy vào ba kinh can, thận, tỳ và vị. Công năng chính bao gồm khứ hàn, lý khí, chỉ thống và khai vị. Dược liệu được ứng dụng như gia vị khai vị để ôn trung trừ hàn, chống nôn thổ, cải thiện tình trạng đầy bụng do tiêu hóa kém, giảm đau vùng mạng sườn. Trong lâm sàng cổ truyền, dược liệu được sử dụng để điều trị các chứng bệnh như thoát vị bẹn, sa tinh hoàn, thận hư yếu gây thống, đau bụng và sườn, cùng với các triệu chứng nôn ăn ít.
Theo y học hiện đại
- Trong điều trị lao: Hoạt chất anethole tìm thấy trong Củ hồi đã được các nghiên cứu ghi nhận có khả năng ức chế sự phát triển của trực khuẩn lao trên các mô hình động vật thực nghiệm.
- Trong tác dụng lên thần kinh: Dược liệu Củ hồi thể hiện tính chất kích thích tại chỗ tương đương với bạc hà, góp phần tăng cảm giác và phản ứng cục bộ.
- Trong tác dụng lên hệ tiêu hóa: Tinh dầu có trong Củ hồi thúc đẩy tiết lượng dịch vị dạ dày, kích hoạt hoạt động trung tiện và tăng cường nhu động ruột. Ngoài ra, dược liệu còn phát huy khả năng giảm co thắt cơ trơn ruột và ức chế cơn đau bụng.
Liều dùng và cách dùng Củ hồi
- Liều lượng khuyến cáo là 3 – 6 g mỗi ngày, có thể dùng dưới dạng thuốc sắc hoặc hoàn tán. Trong thực hành lâm sàng, dược liệu này thường được kết hợp với các dạng thuốc khác để tăng hiệu quả điều trị.
Bài thuốc kinh nghiệm
Điều hòa kinh nguyệt
- Để điều hòa kinh nguyệt trong trường hợp kinh nguyệt chậm, lượng máu kinh ít, sắc máu nhạt, bụng dưới đau ê ẩm, lưng mỏi, đại tiện lỏng: Dùng Củ hồi 6g, hoàng kỳ 30g, đương quy 15g, kỷ tử 15g, ngải diệp 10g, gừng nướng 6g, quế chi 10g, xuyên khung 8g, bạch thược 10g, thục địa 10g, ngưu tất 10g, ba kích 12g. Sắc với nước 1.000ml đến khi còn 600ml, chia thành 3 lần uống trong ngày. Hằng tháng nên dùng liên tục 10 – 15 ngày sau khi kinh nguyệt sạch.
Ôn trung trừ hàn, thích hợp trong những ngày giá rét
- Chuẩn bị Củ hồi 10g cùng đường đỏ lượng thích hợp. Rửa sạch Củ hồi, tán vụn nhỏ, hãm với nước sôi trong bình kín khoảng 20 phút cho đến khi có thể dùng được. Khi uống, thêm đường đỏ với lượng vừa ăn, dùng thay trà suốt trong ngày.
Bổ thận, tráng dương
- Chuẩn bị Củ hồi 8g, cật dê hai quả, đậu đen 100g, đỗ trọng 15g và gia vị vừa đủ. Cách chế biến: Rửa sạch cật dê, xắt thành từng miếng nhỏ. Rửa sạch Củ hồi, đậu đen, đỗ trọng, để ráo, bỏ vào túi vải gạc. Cho toàn bộ vào nồi, thêm nước vừa đủ, nấu từ 30 – 60 phút, sau đó điều vị cho phù hợp khẩu vị. Bài thuốc này đặc biệt có lợi cho người dương hư, đau lưng, chân gối mỏi, sinh hoạt tình dục giảm sút.
Trị ăn không tiêu, đầy hơi, khó thở, hen
- Lấy Củ hồi, hạt cải trắng, hạt củ cải, hạt tía tô với lượng bằng nhau. Tán nhỏ thành bột, mỗi lần uống 1g, ngày 3 lần. Ngoài ra, có thể chưng nóng bột này với rượu, sau đó gói vắt xoa chườm vùng ngực và bụng.
Trị viêm cầu thận cấp tính
- Sử dụng Củ hồi 12g; cỏ xước, đậu đỏ, đậu đen mỗi loại 20g; thổ phục linh, tỳ giải, củ mài mỗi loại 16g; mã đề 12g, đại hồi 10g; nhục quế 8g, gừng khô 6g. Sắc toàn bộ, uống một thang mỗi ngày.
Trị đau xóc dưới sườn
- Dùng Củ hồi sao vàng 40g, chỉ xác sao vàng 20g. Tán thành bột mịn, mỗi lần uống 8g pha với rượu và muối, ngày 2 lần.
Lưu ý khi dùng Củ hồi
- Chống chỉ định sử dụng ở những người có thể trạng âm hư với hỏa vượng hoặc những đối tượng mang thực nhiệt không nên áp dụng dược liệu này.
- Mặc dù củ hồi là gia vị quen thuộc trong sinh hoạt hàng ngày và có nguồn gốc từ tự nhiên, dược liệu vẫn sở hữu những chỉ định, chống chỉ định và có khả năng gây tác dụng phụ nhất định. Vì vậy, bạn đọc và người thân không nên tự ý sử dụng hoặc áp dụng theo các bài thuốc kinh nghiệm mà chưa được kiểm chứng.
- Để hiểu rõ hơn về tình trạng sức khỏe cơ thể và tính phù hợp của dược liệu này, bạn đọc nên tham khảo ý kiến của các chuyên gia y tế hoặc bác sĩ lâm sàng trước khi sử dụng.
Nguồn tham khảo
Dược điển Việt Nam V.
Sách " Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập 1".
Những Cây thuốc và Vị thuốc Việt Nam (Đỗ Tất Lợi).
Tra cứu dược liệu: https://tracuuduoclieu.vn/foeniculum-vulgare-hill.html

