14
Moexipril là một thuốc ức chế men chuyển angiotensin, thường được sử dụng để điều trị tăng huyết áp, suy tim và bệnh thận do đái tháo đường. Với khả năng ức chế hoạt động của men chuyển angiotensin, moexipril giúp giảm huyết áp và cải thiện chức năng tim. Tuy nhiên, cần thận trọng khi sử dụng moexipril, đặc biệt đối với phụ nữ có thai và những người có tiền sử mẫn cảm với thuốc ức chế men chuyển.
Tổng quan về Moexipril
Tên thuốc gốc (Hoạt chất)
- Moexipril
Loại thuốc
- Chất ức chế men chuyển
Dạng thuốc và hàm lượng
- Viên nén bao phim 7,5 mg, 15 mg
Chỉ định Moexipril
Chỉ định
- Suy tim.
- Bệnh thận do đái tháo đường.
- Tăng huyết áp.
Dược lực học
Dược lực học
- Moexipril hydrochloride, một tiền chất, phát huy tác dụng ức chế men chuyển angiotensin (ACE) trên cả người và động vật, thông qua chất chuyển hóa có hoạt tính là moexiprilat.
- Việc moexiprilat làm hạ huyết áp được cho là chủ yếu nhờ khả năng ức chế hoạt động của ACE.
- ACE là một peptidyl dipeptidase có vai trò xúc tác quá trình biến đổi decapeptide angiotensin I không hoạt động thành angiotensin II, một chất gây co mạch.
- Angiotensin II không chỉ là một chất co mạch ngoại vi mạnh mẽ mà còn kích thích vỏ thượng thận tiết aldosterone và đồng thời ức chế sự giải phóng renin.
- Enzym ACE cũng tương tự như kininase II, một enzym chịu trách nhiệm phân hủy bradykinin – một chất giãn mạch có tác dụng phụ thuộc vào nội mạc.
- Trong khả năng ức chế ACE và kininase II, moexiprilat có hiệu lực mạnh hơn moexipril khoảng 1000 lần.
- Khi ACE bị ức chế, quá trình hình thành angiotensin II sẽ giảm, kéo theo giảm co mạch, tăng hoạt động renin trong huyết tương và giảm tiết aldosterone.
- Hệ quả của những thay đổi này là tăng bài tiết nước tiểu và natri, cùng với sự tăng nhẹ nồng độ kali trong huyết thanh.
- Dù cơ chế hạ huyết áp chủ yếu của moexipril được cho là thông qua hệ thống renin-angiotensin-aldosterone, các thuốc ức chế ACE vẫn có khả năng tác động đến huyết áp ngay cả ở những bệnh nhân tăng huyết áp có nồng độ renin thấp rõ rệt.
- Tuy nhiên, tương tự như các thuốc ức chế men chuyển khác, hiệu quả hạ huyết áp của moexipril ở bệnh nhân da đen – nhóm đối tượng thường có nồng độ renin thấp – thường kém hơn đáng kể so với bệnh nhân tăng huyết áp không phải da đen.
Dược động học
Dược động học
Hấp thu
- Chỉ khoảng 13% lượng thuốc moexipril dùng đường uống được hấp thu vào cơ thể.
- Nồng độ cao nhất của moexiprilat trong huyết tương thường đạt được sau khoảng 1,5 giờ.
- Hiệu quả hạ huyết áp bắt đầu xuất hiện khoảng 1 giờ sau khi dùng một liều duy nhất, với mức giảm huyết áp tối đa quan sát được trong khoảng 3–6 giờ.
- Tác dụng hạ huyết áp của một liều đơn kéo dài khoảng 24 giờ.
- Khi điều trị dài ngày, tác dụng hạ huyết áp tối đa ở bất kỳ liều nào sẽ được thiết lập sau 4 tuần.
Phân bố
- Tỷ lệ liên kết của thuốc với protein huyết tương là 50%.
Chuyển hóa
- Moexipril được chuyển hóa tại gan, chủ yếu biến đổi thành moexiprilat, một chất chuyển hóa có hoạt tính dược lý.
Thải trừ
- Sau khi uống, thuốc được thải trừ chủ yếu qua phân (53%), phần lớn dưới dạng moexiprilat, và một phần nhỏ hơn qua nước tiểu (13%).
- Khi dùng đường tiêm tĩnh mạch, quá trình thải trừ diễn ra chủ yếu qua nước tiểu, với moexiprilat chiếm 40% và moexipril chiếm 26%; một lượng nhỏ hơn (khoảng 20%) được thải qua phân, chủ yếu dưới dạng moexiprilat.
- Thời gian bán thải của thuốc là 12 giờ.
Tương tác thuốc Moexipril
Tương tác Moexipril với các thuốc khác
- Nguy cơ suy thận, tăng nồng độ kali trong máu và hạ huyết áp sẽ gia tăng khi dùng đồng thời moexipril với aliskiren hoặc các thuốc đối kháng thụ thể angiotensin II.
- Hiệu quả hạ huyết áp của moexipril được tăng cường khi kết hợp với thuốc lợi tiểu.
- Nồng độ kali máu có thể tăng lên khi moexipril được dùng chung với thuốc lợi tiểu giữ kali (như amiloride, spironolactone, triamterene), các chế phẩm bổ sung kali hoặc các chất thay thế muối có chứa kali.
- Việc sử dụng đồng thời với các thuốc kháng viêm không steroid (NSAIDs) có thể gây suy giảm chức năng thận, thậm chí dẫn đến suy thận, đặc biệt ở người cao tuổi, bệnh nhân bị giảm thể tích tuần hoàn hoặc có sẵn tổn thương thận; tác dụng này thường có thể hồi phục.
Chống chỉ định thuốc Moexipril
Chống chỉ định
- Bệnh nhân có tiền sử mẫn cảm với moexipril, bất kỳ tá dược nào của thuốc, hoặc các thuốc ức chế men chuyển (ACE inhibitor) khác.
- Người bệnh có tiền sử phù mạch liên quan đến việc điều trị bằng thuốc ức chế men chuyển trước đó.
- Không dùng đồng thời với aliskiren ở những bệnh nhân mắc bệnh đái tháo đường.
Liều lượng & cách dùng Moexipril
Người lớn
- Nên uống thuốc một hoặc hai lần mỗi ngày, trước bữa ăn 1 giờ.
- Đối với bệnh nhân chưa sử dụng thuốc lợi tiểu, liều khởi đầu là 7,5 mg, dùng 1 lần/ngày.
- Bệnh nhân đang dùng thuốc lợi tiểu nên ngừng thuốc này, nếu có thể, từ 2 đến 3 ngày trước khi bắt đầu dùng moexipril, hoặc cân nhắc tăng lượng muối ăn một cách thận trọng. Việc điều trị lợi tiểu có thể được tiếp tục nếu huyết áp không được kiểm soát đầy đủ chỉ với moexipril. Trong trường hợp không thể ngừng thuốc lợi tiểu, liều moexipril khởi đầu thấp hơn (3,75 mg) cần được chỉ định dưới sự giám sát y tế chặt chẽ cho đến khi huyết áp của bệnh nhân ổn định.
- Liều duy trì thông thường dao động từ 7,5 mg đến 30 mg mỗi ngày, có thể dùng một lần hoặc chia thành hai lần.
- Nếu hiệu quả của thuốc giảm vào cuối khoảng thời gian dùng thuốc ở những bệnh nhân dùng liều một lần mỗi ngày, cần cân nhắc tăng liều hoặc chuyển sang dùng thuốc hai lần mỗi ngày.
Đối tượng đặc biệt
Suy thận
- Đối với bệnh nhân suy thận nặng (có độ thanh thải creatinin Cl cr ≤ 40 mL/phút), liều khởi đầu là 3,75 mg, dùng 1 lần/ngày, với liều tối đa là 15 mg mỗi ngày.
Tác dụng phụ của Moexipril
Thường gặp
- Ho, hoa mắt, tiêu chảy, các triệu chứng giống cúm, cảm giác mệt mỏi, viêm họng, đỏ bừng mặt, nổi ban da, đau nhức cơ, tăng nồng độ creatinin huyết thanh, tăng BUN.
Ít gặp
- Mệt mỏi, triệu chứng giống cúm, đau, phù ở các chi, đau tức ngực, đau vùng bụng, táo bón, ói mửa, đau khớp.
Hiếm gặp
- Sốt, co thắt đường hô hấp, khó thở, khô miệng, viêm tụy, suy thận cấp tính, suy giảm chức năng thận, phù mạch, rối loạn cương dương, tăng nồng độ kali trong máu, giảm số lượng bạch cầu trung tính, tăng bạch cầu ái toan, thiếu máu.
Không xác định tần suất
- Viêm phổi tăng bạch cầu ái toan, phù mạch ở ruột, tăng tiết mồ hôi, nhạy cảm với ánh sáng, hạ huyết áp có triệu chứng, hạ huyết áp tư thế.
Lưu ý khi dùng Moexipril
Lưu ý chung
- Việc sử dụng moexipril trong thai kỳ có thể gây bệnh tật và tử vong cho cả thai nhi và trẻ sơ sinh. Những nguy cơ này tiềm ẩn trong suốt thời gian mang thai, đặc biệt nghiêm trọng trong tam cá nguyệt thứ hai và thứ ba. Ngoài ra, dùng thuốc trong ba tháng đầu thai kỳ cũng có thể làm tăng nguy cơ dị tật bẩm sinh nghiêm trọng. Khi phát hiện có thai, cần ngừng sử dụng moexipril (thuốc ức chế men chuyển) càng sớm càng tốt, trừ khi việc tiếp tục điều trị được coi là bắt buộc để cứu sống người mẹ. Hầu hết phụ nữ có thể chuyển sang liệu pháp thay thế và được điều trị thành công trong phần còn lại của thai kỳ.
- Bệnh nhân có thể gặp phải tình trạng hạ huyết áp có triệu chứng, đặc biệt là những người bị thiếu hụt muối (do chế độ ăn hạn chế muối, điều trị bằng thuốc lợi tiểu, đang lọc máu, hoặc có triệu chứng buồn nôn/nôn).
- Nguy cơ hạ huyết áp nghiêm trọng, đôi khi kèm theo thiểu niệu và tăng urê huyết, và trong những trường hợp hiếm gặp là suy thận cấp và tử vong, đã được ghi nhận ở bệnh nhân suy tim, dù có hay không có suy thận kèm theo. Hạ huyết áp nặng có thể dẫn đến nhồi máu cơ tim hoặc đột quỵ ở những bệnh nhân mắc bệnh thiếu máu cơ tim, hẹp eo động mạch chủ hoặc bệnh mạch máu não. Tình trạng tụt huyết áp cũng có thể xảy ra ở bệnh nhân đang phẫu thuật hoặc được gây mê bằng các tác nhân có khả năng hạ huyết áp; khuyến cáo điều trị bằng cách tăng thể tích dịch. Có thể giảm thiểu khả năng xảy ra hạ huyết áp bằng cách ngưng điều trị thuốc lợi tiểu và/hoặc tăng lượng natri trong 2-3 ngày trước khi bắt đầu dùng moexipril.
- Các tác dụng phụ trên gan, ban đầu biểu hiện bằng vàng da ứ mật và có thể tiến triển thành hoại tử gan tối cấp (đôi khi gây tử vong), đã được báo cáo hiếm khi xảy ra khi sử dụng thuốc ức chế men chuyển.
- Phù mạch ảnh hưởng đến mặt, tứ chi, môi, lưỡi, thanh môn và/hoặc thanh quản đã được ghi nhận ở bệnh nhân điều trị bằng thuốc ức chế men chuyển, bao gồm moexipril. Trong các thử nghiệm đối chứng giả dược, triệu chứng gợi ý phù mạch hoặc phù mặt xảy ra ở dưới 0,5% bệnh nhân dùng moexipril. Không có trường hợp nào được coi là đe dọa tính mạng và tất cả đều tự khỏi hoặc được giải quyết bằng thuốc (thuốc kháng histamine hoặc glucocorticoid).
- Phù mạch đường ruột cũng đã được báo cáo ở những bệnh nhân sử dụng thuốc ức chế men chuyển. Những bệnh nhân này thường có biểu hiện đau bụng (có hoặc không kèm theo buồn nôn hoặc nôn); một số trường hợp không có tiền sử phù mạch mặt trước đó và nồng độ C-1 esterase vẫn bình thường. Chẩn đoán phù mạch đường ruột được thực hiện thông qua các phương pháp như chụp CT bụng, siêu âm hoặc trong quá trình phẫu thuật, và các triệu chứng sẽ thuyên giảm sau khi ngừng thuốc ức chế men chuyển. Phù mạch đường ruột cần được xem xét trong chẩn đoán phân biệt ở những bệnh nhân đang dùng thuốc ức chế men chuyển có triệu chứng đau bụng.
- Suy giảm chức năng thận có thể xuất hiện ở bệnh nhân tăng huyết áp có hẹp động mạch thận một bên hoặc hai bên; tình trạng này thường có thể hồi phục sau khi ngừng thuốc ức chế men chuyển và/hoặc thuốc lợi tiểu.
- Tăng kali huyết có thể xảy ra, đặc biệt ở bệnh nhân suy thận hoặc đái tháo đường, cũng như những người đang dùng các loại thuốc có khả năng làm tăng nồng độ kali huyết thanh (như thuốc lợi tiểu tiết kiệm kali, thuốc bổ sung kali, hoặc các chất thay thế muối có chứa kali).
- Bệnh nhân có thể bị ho dai dẳng và không thuyên giảm, thường hết sau khi ngừng thuốc.
Lưu ý với phụ nữ có thai
- Việc sử dụng các thuốc tác động lên hệ thống renin-angiotensin trong tam cá nguyệt thứ hai và thứ ba của thai kỳ có thể làm suy giảm chức năng thận của thai nhi, đồng thời làm tăng tỷ lệ mắc bệnh tật và tử vong ở thai nhi và trẻ sơ sinh. Nếu phát hiện có thai, hãy ngưng thuốc càng sớm càng tốt.
Lưu ý với phụ nữ cho con bú
- Hiện chưa có thông tin liệu moexipril có được bài tiết vào sữa mẹ hay không. Cần thận trọng khi sử dụng thuốc này cho phụ nữ đang cho con bú.
Lưu ý khi lái xe và vận hành máy móc
- Thuốc không gây ảnh hưởng đáng kể đến khả năng lái xe hoặc vận hành máy móc.
Quá liều và cách xử lý
- Hướng dẫn khi bỏ lỡ một liều
- Nếu bệnh nhân quên uống một liều thuốc, cần bổ sung ngay khi nhớ ra.
- Tuy nhiên, nếu thời điểm uống liều tiếp theo đã gần kề, bệnh nhân nên bỏ qua liều đã quên và tiếp tục với liều kế tiếp theo đúng lịch trình ban đầu.
- Tuyệt đối không được dùng gấp đôi liều lượng đã được chỉ định.
- Xử lý khi dùng quá liều
Độc tính và tình trạng quá liều Moexipril
- Cho đến nay, chưa có trường hợp quá liều Moexipril nào được ghi nhận ở người.
Biện pháp can thiệp khi quá liều
- Khi có dấu hiệu quá liều, cần đưa bệnh nhân đến cơ sở y tế cấp cứu ngay lập tức.
Nguồn tham khảo
DailyMed: https://dailymed.nlm.nih.gov/dailymed/drugInfo.cfm?setid=baac91ad-f8ee-4694-89f8-5c47a8eda39a
Uptodate
Uptodate
Drugs.com: https://www.drugs.com/monograph/moexipril.html
Drugs.com: https://www.drugs.com/monograph/moexipril.html
Bài viết này có hữu ích không?
Có0Không0

