Thuốc Repaglinide là một loại thuốc hạ đường huyết được chỉ định để điều trị bệnh đái tháo đường type II, giúp giảm nồng độ glucose trong máu bằng cách kích thích tiết insulin từ tuyến tụy. Repaglinide thường được dùng đơn trị liệu hoặc kết hợp với các thuốc khác để đạt được mức đường huyết mục tiêu.
Tổng quan về Repaglinide
Tên thuốc gốc (Hoạt chất)
- Repaglinide
Loại thuốc
- Thuốc hạ đường huyết (kích thích tiết insulin từ tế bào beta đảo tụy).
Dạng thuốc và hàm lượng
- Viên nén 0,5 mg; 1 mg; 2 mg.
Chỉ định Repaglinide
- Repaglinide được chỉ định dùng đơn trị liệu hoặc kết hợp để điều trị bệnh đái tháo đường type II đối với những bệnh nhân chưa đạt được mức đường huyết mục tiêu thông qua chế độ ăn uống, luyện tập thể dục và các liệu pháp hạ đường huyết khác.
Dược lực học
- Là một tác nhân hạ đường huyết đường uống, Repaglinide có khả năng giảm nồng độ glucose trong máu bằng cách thúc đẩy sự tiết insulin từ tuyến tụy. Hiệu ứng này phụ thuộc vào chức năng của tế bào beta trong các tiểu đảo tụy.
- Cơ chế tác dụng của Repaglinide bao gồm việc liên kết với các kênh kali phụ thuộc ATP trên màng tế bào beta, tại một thụ thể đích riêng biệt so với nhóm sulfonylurea. Sự gắn kết này dẫn đến việc đóng các kênh kali, gây ra quá trình khử cực của tế bào beta. Hậu quả là các kênh calci mở ra, làm tăng dòng ion calci vào trong tế bào, từ đó kích thích sự bài tiết insulin từ tế bào beta.
- Đối với bệnh nhân mắc bệnh đái tháo đường type II, việc tiết insulin được kích hoạt trong vòng 30 phút sau khi dùng Repaglinide đường uống, mang lại hiệu quả giảm đường huyết kéo dài trong suốt bữa ăn.
Dược động học
Hấp thu
- Sau khi uống, Repaglinide được hấp thu nhanh chóng, dẫn đến sự gia tăng nhanh chóng nồng độ hoạt chất trong huyết tương. Nồng độ đỉnh của thuốc trong huyết tương thường đạt được trong vòng một giờ sau khi dùng, sau đó giảm đi nhanh chóng.
- Sự hiện diện của thức ăn có thể làm chậm tốc độ và giảm mức độ hấp thu của Repaglinide tại đường tiêu hóa. Cụ thể, việc dùng thuốc cùng bữa ăn giàu chất béo dẫn đến sự giảm nhẹ cả nồng độ đỉnh trong huyết tương và diện tích dưới đường cong (AUC).
- Sinh khả dụng tuyệt đối trung bình của thuốc là 63% (với hệ số biến thiên 11%).
Phân bố
- Repaglinide có thể tích phân bố thấp (30 L) và khả năng gắn kết cao với protein huyết tương ở người (trên 98%).
Chuyển hóa
- Thuốc được chuyển hóa gần như hoàn toàn trong cơ thể, và không có chất chuyển hóa nào được xác định là có hoạt tính hạ đường huyết. Quá trình chuyển hóa chính của Repaglinide diễn ra tại gan, chủ yếu thông qua các enzym CYP 3A4 và CYP 2C8. Các chất chuyển hóa bao gồm acid dicarbocylic bị oxy hóa, amin thơm và acyl glucuronide.
Thải trừ
- Repaglinide được loại bỏ nhanh chóng khỏi máu trong khoảng thời gian từ 4 đến 6 giờ. Thời gian bán thải của thuốc trong huyết tương xấp xỉ một giờ.
- Hầu hết các chất chuyển hóa của Repaglinide được bài tiết qua mật (khoảng 90%). Một phần nhỏ liều dùng (dưới 8%) được tìm thấy trong nước tiểu, chủ yếu ở dạng chất chuyển hóa. Dưới 1% Repaglinide dưới dạng không đổi được thu hồi trong phân.
Tương tác thuốc Repaglinide
Tương tác thuốc
- Repaglinide trải qua quá trình chuyển hóa bởi các enzym CYP3A4 và CYP2C8. Do đó, các dược chất đóng vai trò là cơ chất hoặc gây ảnh hưởng đến hoạt động của hai enzym này sẽ tác động đến dược động học và hiệu quả điều trị của repaglinide.
- Các loại thuốc sau đây có thể làm tăng hoặc kéo dài tác dụng hạ đường huyết của repaglinide: Gemfibrozil, clarithromycin, itraconazole, ketoconazole, trimethoprime, cyclosporine, deferasirox, clopidogrel, các thuốc điều trị đái tháo đường khác, thuốc ức chế monoamine oxidase (MAOI), thuốc chẹn beta không chọn lọc, chất chủ vận angiotensine, salycilate, NSAID, steroid.
- Ngược lại, những thuốc dưới đây có thể làm giảm hiệu quả hạ đường huyết của repaglinide: Rifampicin, thuốc tránh thai đường uống, barbiturate, carbamazepine, thiazide, corticosteroid, danazole, hormone tuyến giáp và thuốc kích thích giao cảm.
- Thuốc chẹn beta được dùng để điều trị tăng huyết áp và suy tim có thể che giấu các dấu hiệu nhận biết tình trạng hạ đường huyết (ví dụ: nhịp tim nhanh) ở bệnh nhân đang sử dụng repaglinide và các loại thuốc điều trị đái tháo đường khác.
Tương tác với thực phẩm
- Rượu có khả năng gây ra tình trạng hạ đường huyết hoặc tăng đường huyết ở người bệnh đái tháo đường.
- Hạ đường huyết thường xuất hiện trong giai đoạn uống rượu cấp tính. Ngay cả một lượng nhỏ rượu cũng có thể làm giảm đáng kể mức đường huyết, đặc biệt khi uống lúc bụng đói hoặc sau khi tập thể dục.
- Cơ chế liên quan đến việc ức chế quá trình tân tạo đường và làm suy yếu các phản ứng điều hòa ngược của cơ thể đối với hạ đường huyết. Các đợt hạ đường huyết này có thể kéo dài từ 8 đến 12 giờ sau khi tiêu thụ rượu.
- Ngược lại, việc lạm dụng rượu mãn tính có thể dẫn đến rối loạn dung nạp glucose và gây tăng đường huyết.
- Thông thường, uống rượu ở mức độ vừa phải không ảnh hưởng đến nồng độ đường huyết đối với những bệnh nhân đái tháo đường có mức đường huyết được kiểm soát tốt.
- Nước ép bưởi có khả năng làm tăng nồng độ repaglinide trong huyết tương, cũng như các loại thuốc uống là cơ chất của isoenzym CYP450 3A4. Điều này có thể do một số hợp chất trong bưởi ức chế chuyển hóa qua trung gian CYP450 3A4 tại thành ruột.
- Bệnh nhân nên tránh dùng nước ép bưởi và rượu trong suốt quá trình điều trị bằng repaglinide.
Chống chỉ định thuốc Repaglinide
Chống chỉ định
Không nên sử dụng Repaglinide trong những trường hợp sau:
- Bệnh nhân có tiền sử mẫn cảm nghiêm trọng với repaglinide.
- Người mắc bệnh đái tháo đường type I.
- Tình trạng nhiễm toan ceton do đái tháo đường, bất kể có hoặc không có hôn mê.
- Người bị rối loạn chức năng gan ở mức độ nặng.
- Bệnh nhân đang dùng đồng thời gemfibrozil.
- Trẻ em dưới 12 tuổi.
- Phụ nữ đang mang thai hoặc cho con bú.
Liều lượng & cách dùng Repaglinide
Liều dùng
Người lớn
- Đối với bệnh nhân chưa từng dùng thuốc giảm đường huyết hoặc có chỉ số HbA1c dưới 8%:
- Liều khởi đầu: 0,5 mg.
- Đối với bệnh nhân đã sử dụng thuốc giảm đường huyết hoặc có chỉ số HbA1c từ 8% trở lên:
- Liều khởi đầu: 1 hoặc 2 mg.
- Cần theo dõi chặt chẽ nồng độ glucose trong máu; nếu mức đường huyết chưa được kiểm soát tối ưu, có thể tăng liều từ từ sau mỗi 1 đến 2 tuần. Mỗi lần điều chỉnh liều có thể thêm 0,5 đến 1 mg, cho đến khi đạt mức liều cao nhất là 4 mg mỗi lần, dùng 4 lần mỗi ngày.
Đối tượng khác
Bệnh nhân cao tuổi:
- Hiện chưa có nghiên cứu cụ thể về liều lượng cho đối tượng bệnh nhân trên 75 tuổi.
Bệnh nhân suy thận:
- Đối với tình trạng suy thận từ nhẹ đến trung bình: Không yêu cầu điều chỉnh liều khởi đầu, nhưng cần hết sức thận trọng khi tiến hành tăng liều.
- Trong trường hợp suy thận nặng (độ thanh thải creatinin Clcr bằng 20 đến 40 mL/phút): Nên bắt đầu với liều 0,5 mg mỗi ngày và điều chỉnh liều dựa trên đáp ứng của từng bệnh nhân.
- Thuốc không được khuyến cáo sử dụng cho bệnh nhân có độ thanh thải creatinin dưới 20 mL/phút hoặc những người cần lọc máu do suy thận.
Cách dùng
- Nên uống thuốc trước bữa ăn từ 15 đến 30 phút.
Tác dụng phụ của Repaglinide
Thường gặp
- Hạ đường huyết, đau bụng, đi ngoài, suy giảm chức năng hô hấp, nhiễm khuẩn đường hô hấp trên, đau đầu.
Ít gặp
- Đau lưng, viêm xoang, viêm phế quản, đau khớp, đau ngực, gặp ác mộng, khó ngủ, đi bộ khi ngủ, cảm thấy bồn chồn, dễ cáu gắt, tình trạng kích động, chảy máu mũi.
Hiếm gặp
- Rối loạn chức năng gan, tăng nồng độ men gan, ói mửa, tình trạng táo bón, các sự kiện tim mạch, rối loạn về khúc xạ mắt, khó tập trung, giảm sút trí nhớ, giảm số lượng tiểu cầu, giảm số lượng bạch cầu, thiếu máu tan máu, viêm tụy.
Không xác định tần suất
- Tình trạng quá mẫn cảm, các phản ứng dị ứng, cảm giác buồn nôn, ngất xỉu hoặc hôn mê do đường huyết thấp.
Lưu ý khi dùng Repaglinide
Lưu ý chung
- Repaglinide chỉ nên được chỉ định khi việc kiểm soát đường huyết còn hạn chế và các biểu hiện của bệnh tiểu đường vẫn dai dẳng, ngay cả sau khi bệnh nhân đã tuân thủ chế độ ăn kiêng, luyện tập thể dục và thực hiện giảm cân.
- Đối với những bệnh nhân vốn đã kiểm soát đường huyết ổn định bằng thuốc uống nhưng sau đó phải đối mặt với các tình huống căng thẳng như sốt, chấn thương, nhiễm trùng hoặc phẫu thuật, nguy cơ đường huyết không ổn định sẽ tăng đáng kể. Trong trường hợp này, việc ngừng sử dụng repaglinide và chuyển sang điều trị insulin tạm thời là cần thiết.
- Hiện chưa có dữ liệu nghiên cứu đầy đủ về tính an toàn và hiệu quả của repaglinide ở nhóm bệnh nhân dưới 18 tuổi. Do đó, việc kê đơn repaglinide cho đối tượng này không được khuyến nghị.
Hạ đường huyết
- Repaglinide có thể gây ra tình trạng hạ đường huyết. Các dấu hiệu cảnh báo hạ đường huyết có thể bị che mờ ở người cao tuổi hoặc những bệnh nhân đang dùng thuốc chẹn beta để kiểm soát huyết áp cao. Đặc biệt, những người suy nhược, thiếu dinh dưỡng, mắc bệnh gan/thận nghiêm trọng, hoặc suy chức năng tuyến thượng thận/tuyến yên có nguy cơ cao hơn nhiều về biến cố hạ đường huyết.
Kết hợp với các chất kích thích tiết insulin
- Hiệu quả giảm đường huyết của repaglinide, tương tự như các loại thuốc điều trị đái tháo đường khác, có xu hướng suy giảm theo thời gian ở nhiều bệnh nhân. Điều này có thể bắt nguồn từ sự tiến triển của bệnh tiểu đường hoặc sự giảm khả năng đáp ứng của cơ thể với thuốc.
- Tình trạng này được gọi là thất bại thứ phát, khác với thất bại nguyên phát (khi thuốc không mang lại hiệu quả ngay từ lần dùng đầu tiên). Trong trường hợp này, việc điều chỉnh liều lượng hoặc thay đổi phác đồ phối hợp thuốc là cần thiết.
Kết hợp với insulin NPH hoặc thiazolidinedione
- Việc sử dụng repaglinide đồng thời với insulin NPH hoặc các thuốc nhóm thiazolidinedione có thể làm tăng nguy cơ xuất hiện các tác dụng phụ nghiêm trọng liên quan đến tim mạch.
Kết hợp với metformin
- Khi repaglinide được dùng kết hợp với metformin, nguy cơ hạ đường huyết sẽ gia tăng.
Hội chứng mạch vành cấp
- Việc dùng repaglinide có khả năng làm tăng tỷ lệ mắc các hội chứng mạch vành cấp tính, chẳng hạn như nhồi máu cơ tim.
Lưu ý với phụ nữ có thai và cho con bú
- Phân loại nguy cơ thai kỳ theo FDA là C.
- Repaglinide không nên được dùng cho phụ nữ đang mang thai hoặc đang trong giai đoạn cho con bú.
Lưu ý khi lái xe và vận hành máy móc
- Mặc dù repaglinide không tác động trực tiếp lên khả năng điều khiển phương tiện giao thông hoặc vận hành máy móc, nhưng thuốc vẫn có nguy cơ gây hạ đường huyết.
- Do đó, bệnh nhân cần thực hiện các biện pháp phòng ngừa cần thiết để tránh tình trạng hạ đường huyết trong khi thực hiện các hoạt động này.
Quá liều và cách xử lý
Xử trí khi quá liều Repaglinide và quên liều
Quá liều và độc tính
- Việc dùng quá liều Repaglinide có khả năng dẫn đến tình trạng hạ đường huyết nghiêm trọng, với các biểu hiện như chóng mặt, đổ mồ hôi, run rẩy và đau đầu.
Cách xử lý khi quá liều
- Khi xuất hiện các dấu hiệu của hạ đường huyết, cần bổ sung ngay lập tức glucose bằng đường uống.
- Nếu bệnh nhân trải qua hạ đường huyết nghiêm trọng kèm theo co giật, mất ý thức hoặc hôn mê, cần phải tiến hành truyền glucose đường tĩnh mạch để điều trị.
Quên liều và xử trí
- Người bệnh nên uống liều đã quên ngay khi nhớ ra; tuy nhiên, nếu thời điểm nhớ ra đã gần với liều tiếp theo, thì nên bỏ qua liều đã quên.
- Tuyệt đối không được uống gấp đôi liều đã được chỉ định trong bất kỳ trường hợp nào.
Nguồn tham khảo
Tên thuốc: Repaglinide
4. Medscape: https://reference.medscape.com/drug/prandin-repaglinide-342718#10
3. DrugbankVN: https://drugbank.vn/thuoc/Repaglinid&VD-32867-19
https://www.drugs.com/dosage/repaglinide.html
https://www.drugs.com/monograph/repaglinide.html
https://www.drugs.com/food-interactions/repaglinide.html?professional=1
https://www.drugs.com/prandin.html
2. Drugs.com:
1. EMC: https://www.medicines.org.uk/emc/product/258/smpc
Ngày cập nhật: 25/7/2021

