Meropenem là một loại kháng sinh nhóm carbapenem, được sử dụng để điều trị các bệnh nhiễm khuẩn do vi khuẩn Gram âm và Gram dương gây ra. Nó hoạt động bằng cách ngăn chặn quá trình tổng hợp vách tế bào vi khuẩn, và thường được chỉ định cho các trường hợp như viêm phổi, nhiễm khuẩn đường tiết niệu và da.
Tổng quan về Meropenem
Tên thuốc gốc (Hoạt chất)
- Meropenem
Loại thuốc
- Kháng sinh nhóm carbapenem, họ beta-lactam
Dạng thuốc và hàm lượng
- Lọ bột pha tiêm chứa meropenem trihydrat tương đương với 500 mg, 1g meropenem khan
Chỉ định Meropenem
- Thuốc được dùng để điều trị các bệnh nhiễm khuẩn do vi khuẩn Gram âm và Gram dương nhạy cảm với meropenem gây ra, áp dụng cho người lớn cũng như trẻ em từ 3 tháng tuổi trở lên. Các chỉ định cụ thể bao gồm:
- Viêm phổi mắc phải tại cộng đồng hoặc bệnh viện, và viêm phế quản-phổi ở người bệnh xơ nang.
- Các trường hợp nhiễm khuẩn phức tạp ở đường tiết niệu.
- Nhiễm khuẩn phức tạp bên trong ổ bụng.
- Các bệnh nhiễm khuẩn xảy ra trong giai đoạn chuyển dạ và hậu sản.
- Nhiễm khuẩn phức tạp ở da và mô mềm.
- Viêm màng não cấp tính có nguyên nhân nhiễm khuẩn.
- Các trường hợp sốt ở bệnh nhân bị giảm bạch cầu trung tính.
Dược lực học
Meropenem là một loại kháng sinh tổng hợp thuộc nhóm carbapenem, có cấu trúc và tác dụng dược lý tương tự như imipenem và ertapenem trong cùng nhóm. Điểm khác biệt so với imipenem là meropenem có tính bền vững trước sự thủy phân của dehydropeptidase 1 (DHP-1), một enzyme có mặt ở vi nhung mao của tế bào ống lượn gần tại thận. Do đó, meropenem không cần được dùng chung với các chất ức chế DHP-1 như cilastatin.
Thuốc phát huy tác dụng diệt khuẩn bằng cách ngăn chặn quá trình tổng hợp vách tế bào vi khuẩn. Cơ chế này bao gồm việc thấm qua thành tế bào của hầu hết các vi khuẩn Gram âm và Gram dương, sau đó gắn kết và làm bất hoạt các protein liên kết penicillin (PBP). Meropenem có ái lực mạnh nhất với PBP 2, 3 và 4 ở Escherichia coli và Pseudomonas aeruginosa, cùng với PBP 1, 2 và 4 ở Staphylococcus aureus. Nồng độ diệt khuẩn thông thường của meropenem cao gấp một đến hai lần nồng độ kìm khuẩn; tuy nhiên, đối với Listeria monocytogenes, nồng độ diệt khuẩn cụ thể vẫn chưa được xác định.
Meropenem ổn định trước nhiều loại beta-lactamase, bao gồm penicilinase, cephalosporinase và beta-lactamase phổ rộng; nhưng lại dễ bị thủy phân bởi metallo-beta lactamase.
Phổ tác dụng của meropenem tương tự imipenem, bao gồm phần lớn các vi khuẩn Gram âm, Gram dương và một số loài kỵ khí. Tuy nhiên, meropenem thể hiện hoạt tính mạnh hơn imipenem đối với Enterobacteriaceae nhưng lại kém hơn đối với vi khuẩn Gram dương.
Meropenem đã được chứng minh có hiệu quả cả in vitro và trên lâm sàng đối với các vi khuẩn sau:
- Vi khuẩn Gram dương hiếu khí và hiếu khí không bắt buộc: Streptococcus pneumoniae (các chủng nhạy cảm với penicilin), S. pyogenes, S. agalactiae, Staphylococcus aureus (bao gồm các chủng sản xuất beta-lactamase, nhưng không bao gồm các chủng kháng oxacilin/methicilin), Enterococcus faecalis (không bao gồm các chủng kháng vancomycin) và S.viridans.
- Vi khuẩn Gram âm hiếu khí và hiếu khí không bắt buộc: Escherichia coli, Haemophilus influenzae (bao gồm cả các chủng sản xuất beta-lactamase), Klebsiella pneumoniae, Neisseria meningitidis, Proteus mirabilis và Pseudomonas aeruginosa.
- Các vi khuẩn kị khí: Bacteroides fragilis, B. thetaiotaomicron và Peptostreptococcus.
Kháng chéo có thể xảy ra giữa meropenem và các kháng sinh carbapenem khác. Các cơ chế kháng thuốc tiềm năng bao gồm: giảm khả năng thấm qua màng ngoài của vi khuẩn Gram âm (do giảm tổng hợp porin); giảm ái lực đối với PBP; tăng cường vận chuyển tích cực thuốc ra khỏi tế bào vi khuẩn; và sản xuất beta-lactamase có khả năng thủy phân carbapenem. Không có kháng chéo giữa meropenem và các nhóm kháng sinh quinolon, aminosid, macrolid và tetracyclin. Tuy nhiên, một số chủng vi khuẩn có thể biểu hiện kháng với nhiều hơn một nhóm kháng sinh do các cơ chế như giảm tính thấm của màng tế bào và/hoặc tăng cường vận chuyển thuốc ra ngoài.
Dược động học
Hấp thu
- Khi meropenem được tiêm tĩnh mạch với liều 0,5 g hoặc 1 g trong vòng 5 phút, nồng độ cao nhất trong huyết tương lần lượt đạt mức xấp xỉ 50 microgram/ml và 112 microgram/ml.
- Đối với truyền tĩnh mạch cùng liều lượng trong 30 phút, nồng độ đỉnh trong huyết tương ghi nhận được là khoảng 23 microgram/ml và 49 microgram/ml.
- Thời gian bán thải của meropenem trong huyết tương là xấp xỉ 1 giờ; tuy nhiên, khoảng thời gian này có thể kéo dài ở những bệnh nhân suy thận và tăng nhẹ ở trẻ em.
Phân bố
- Meropenem được phân tán rộng rãi vào nhiều mô và dịch trong cơ thể, bao gồm dịch não tủy và mật.
- Khoảng 2% lượng thuốc liên kết với protein huyết tương.
Chuyển hóa
- Meropenem tạo ra một chất chuyển hóa duy nhất, ICI-213689, chất này không có hoạt tính dược lý và được thải trừ qua nước tiểu.
Thải trừ
- So với imipenem, meropenem có khả năng kháng men dehydropeptidase-1 ở thận tốt hơn và chủ yếu được đào thải qua nước tiểu thông qua cả quá trình bài tiết ở ống thận và lọc ở cầu thận.
- Khoảng 70% liều dùng được phát hiện trong nước tiểu ở dạng không đổi trong vòng 12 giờ, và nồng độ thuốc trong nước tiểu duy trì trên 10 microgram/ml trong 5 giờ sau khi tiêm một liều 0,5 g.
- Thẩm tách máu có thể loại bỏ meropenem khỏi cơ thể.
Tương tác thuốc Meropenem
Tương tác với các thuốc khác
- Aminoglycosid: Có sự tương tác dược lực học, dẫn đến tác dụng hiệp đồng chống lại vi khuẩn Pseudomonas aeruginosa.
- Probenecid: Việc dùng probenecid gây ức chế quá trình bài tiết meropenem tại ống thận, dẫn đến tăng nồng độ meropenem trong máu và kéo dài thời gian đào thải của thuốc. Cần tránh dùng đồng thời hai loại thuốc này.
- Acid valproic: Meropenem có thể làm giảm nồng độ acid valproic xuống dưới mức điều trị hiệu quả; do đó, cần hết sức thận trọng khi kết hợp hai thuốc này.
- Thuốc chống đông đường uống: Khi meropenem được sử dụng đồng thời với warfarin, tác dụng chống đông máu của warfarin có thể tăng lên, yêu cầu phải theo dõi cẩn thận.
Tương kỵ thuốc
- Không được pha trộn meropenem với bất kỳ loại thuốc nào khác, ngoại trừ các dung dịch natri clorid 0,9% hoặc glucose 5% như đã được đề cập.
Chống chỉ định thuốc Meropenem
- Bệnh nhân có phản ứng quá mẫn với meropenem hoặc với bất kỳ kháng sinh nhóm carbapenem nào khác.
- Những người có tiền sử phản ứng phản vệ nghiêm trọng khi sử dụng các thuốc kháng sinh nhóm beta-lactam.
Liều lượng & cách dùng Meropenem
Liều dùng
Người lớn
- Đối với các trường hợp viêm phổi (viêm phổi mắc phải từ cộng đồng hoặc tại bệnh viện), nhiễm khuẩn đường tiết niệu có biến chứng, nhiễm khuẩn ổ bụng có biến chứng, nhiễm khuẩn xảy ra trong và sau quá trình sinh nở, cùng với nhiễm khuẩn da và mô mềm: liều khuyến nghị là 500 mg hoặc 1 g, dùng mỗi 8 giờ.
- Trong điều trị viêm phế quản phổi ở bệnh nhân xơ nang và viêm màng não: liều dùng là 2 g, mỗi 8 giờ.
- Đối với bệnh nhân sốt kèm giảm bạch cầu: liều 1 g được chỉ định mỗi 8 giờ.
Trẻ em
- Trẻ từ 3 tháng đến 11 tuổi, cân nặng dưới 50 kg:
- Trong các trường hợp viêm phổi (viêm phổi cộng đồng hoặc mắc phải tại bệnh viện), nhiễm khuẩn đường tiết niệu có biến chứng, nhiễm khuẩn ổ bụng có biến chứng, nhiễm khuẩn trong và sau sinh, và nhiễm khuẩn da cùng mô dưới da: liều dùng là 10 mg/kg hoặc 20 mg/kg, mỗi 8 giờ.
- Đối với viêm phế quản phổi ở bệnh nhân xơ nang và viêm màng não: liều khuyến nghị là 40 mg/kg, mỗi 8 giờ.
- Với bệnh nhân sốt giảm bạch cầu: liều 20 mg/kg, mỗi 8 giờ.
- Trẻ cân nặng từ 50 kg trở lên: Nên áp dụng liều lượng tương tự như người lớn.
Đối tượng khác
Bệnh nhân suy thận:
- Cần điều chỉnh giảm liều meropenem khi sử dụng cho bệnh nhân có độ thanh thải creatinin (Clcr) ≤ 50 ml/phút.
- Bệnh nhân có Clcr từ 26 – 50 ml/phút nên dùng liều thông thường mỗi 12 giờ.
- Với Clcr từ 10 – 25 ml/phút, cần dùng nửa liều thông thường mỗi 12 giờ.
- Đối với Clcr dưới 10 ml/phút, bệnh nhân nên dùng nửa liều thông thường mỗi 24 giờ.
- Vì meropenem được loại bỏ trong quá trình thẩm tách máu, cần bổ sung một liều thuốc sau mỗi phiên thẩm tách.
- Hiện chưa có dữ liệu lâm sàng về việc sử dụng meropenem ở bệnh nhân nhi bị suy giảm chức năng thận.
Bệnh nhân suy gan:
- Không yêu cầu điều chỉnh liều meropenem cho bệnh nhân suy gan.
Người cao tuổi:
- Không cần thay đổi liều nếu độ thanh thải creatinin (Clcr) của bệnh nhân ≥ 50 ml/phút.
Cách dùng
- Meropenem được đưa vào cơ thể thông qua đường tiêm tĩnh mạch trực tiếp hoặc truyền tĩnh mạch.
Tác dụng phụ của Meropenem
Thường gặp
- Tăng số lượng tiểu cầu.
- Đau đầu.
- Táo bón, tiêu chảy, nôn mửa và buồn nôn, đau vùng bụng.
- Nồng độ transaminase, phosphatase kiềm, và lactic dehydrogenase trong huyết thanh tăng cao.
- Phát ban, ngứa. Viêm và đau tại vị trí tiêm.
Ít gặp
- Nhiễm nấm Candida ở khoang miệng và âm đạo.
- Giảm bạch cầu ưa eosin, giảm số lượng tiểu cầu, giảm tổng số bạch cầu, giảm bạch cầu trung tính.
- Dị cảm. Nổi mề đay.
- Nồng độ bilirubin trong huyết thanh tăng.
- Mức urê và creatinin trong máu tăng.
- Tại vị trí tiêm: Viêm tĩnh mạch kèm huyết khối.
Hiếm gặp
- Tình trạng mất bạch cầu hạt, thiếu máu do tan máu.
- Phù mạch (phù Quincke), phản ứng quá mẫn toàn thân (phản vệ).
- Động kinh.
- Viêm ruột kết liên quan đến việc sử dụng kháng sinh.
- Hồng ban đa dạng, hội chứng Stevens-Johnson, hội chứng Lyell (hoại tử biểu bì nhiễm độc).
Lưu ý khi dùng Meropenem
Lưu ý chung
- Bệnh nhân có tiền sử quá mẫn với các kháng sinh nhóm beta-lactam (bao gồm penicilin và cephalosporin) cần được sử dụng meropenem một cách thận trọng, do nguy cơ cao xảy ra phản ứng phản vệ nguy hiểm đến tính mạng.
- Những người có tiền sử dị ứng với nhiều tác nhân khác nhau cũng có khả năng cao hơn gặp phản ứng quá mẫn đe dọa tính mạng khi dùng beta-lactam.
- Không khuyến cáo dùng meropenem đồng thời với probenecid. Cần thận trọng khi phối hợp meropenem với acid valproic hoặc divalproat natri.
- Việc điều chỉnh liều là cần thiết đối với bệnh nhân suy thận (độ thanh thải creatinin Clcr ≤ 50 ml/phút). Đã có báo cáo về giảm tiểu cầu ở bệnh nhân suy thận được điều trị bằng meropenem.
- Co giật và các tác dụng phụ trên hệ thần kinh trung ương đã được ghi nhận khi dùng meropenem. Nguy cơ này tăng lên ở những bệnh nhân có sẵn bệnh lý thần kinh trung ương (ví dụ: tổn thương não, tiền sử động kinh), viêm màng não do vi khuẩn, và/hoặc suy giảm chức năng thận. Trong những trường hợp này, cần cân nhắc giảm liều hoặc ngừng sử dụng meropenem.
- Việc sử dụng kháng sinh kéo dài có thể dẫn đến sự phát triển quá mức của nấm và vi khuẩn không nhạy cảm. Viêm đại tràng giả mạc và tiêu chảy do C. difficile đã được báo cáo ở bệnh nhân dùng meropenem. Do đó, cần theo dõi chặt chẽ và chẩn đoán thích hợp nếu bệnh nhân bị tiêu chảy trong hoặc sau quá trình điều trị bằng meropenem.
- Chức năng gan cần được theo dõi định kỳ trong quá trình điều trị bằng meropenem, đặc biệt ở những bệnh nhân đã có bệnh gan từ trước, vì thuốc có thể gây độc cho gan.
- Meropenem có thể gây ra kết quả dương tính giả trong xét nghiệm Coomb trực tiếp hoặc gián tiếp.
Lưu ý với phụ nữ có thai
- Các nghiên cứu trên động vật không cho thấy meropenem gây suy giảm khả năng sinh sản hoặc độc tính cho thai nhi. Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu đối chứng đầy đủ trên phụ nữ mang thai và không rõ liệu thuốc có gây hại cho thai nhi hay không. Do đó, nên tránh dùng meropenem cho phụ nữ có thai, trừ khi lợi ích điều trị được đánh giá là vượt trội rõ rệt so với rủi ro tiềm ẩn.
Lưu ý với phụ nữ cho con bú
- Hiện chưa xác định được liệu meropenem có bài tiết vào sữa mẹ hay không. Vì lý do an toàn, nên tránh sử dụng meropenem cho phụ nữ đang nuôi con bằng sữa mẹ.
Lưu ý khi lái xe và vận hành máy móc
- Chưa có nghiên cứu cụ thể nào được thực hiện để đánh giá ảnh hưởng của meropenem đến khả năng lái xe và vận hành máy móc. Tuy nhiên, người bệnh cần lưu ý rằng meropenem có thể gây ra các tác dụng phụ như đau đầu, rối loạn cảm giác tê bì và co giật, có thể ảnh hưởng đến khả năng thực hiện các hoạt động này.
Quá liều và cách xử lý
Quá liều và độc tính
- Hiện tượng quá liều Meropenem thường xuất hiện khi thuốc được dùng cho bệnh nhân suy thận mà không có sự điều chỉnh liều lượng thích hợp.
- Các triệu chứng khi dùng quá liều chủ yếu là những tác dụng phụ đã biết của thuốc; chúng thường giảm nhẹ hoặc biến mất khi ngưng sử dụng thuốc hoặc giảm liều.
Cách xử lý khi quá liều
- Trong trường hợp quá liều Meropenem, có thể cần thiết phải thực hiện các biện pháp điều trị triệu chứng.
- Ở những người có chức năng thận bình thường, Meropenem sẽ được đào thải nhanh chóng qua đường thận.
- Phương pháp thẩm tách máu có khả năng loại bỏ Meropenem và các chất chuyển hóa của nó khỏi cơ thể.
Xử trí khi quên liều
- Nếu một liều thuốc bị bỏ lỡ, hãy uống ngay liều đó khi bạn nhớ ra.
- Tuy nhiên, nếu thời điểm nhớ ra đã gần với liều kế tiếp, bạn nên bỏ qua liều đã quên và tiếp tục lịch trình dùng thuốc như bình thường.
- Tuyệt đối không được dùng gấp đôi liều đã quy định để bù cho liều đã quên.
Nguồn tham khảo
Tên thuốc: Meropenem
3. EMC: https://www.medicines.org.uk/emc/product/9834/smpc
2. Drugbank.vn: https://drugbank.vn/thuoc/Meropenem-500mg&VD-27144-17
1. Dược thư Quốc gia Việt Nam 2015
Ngày cập nhật: 01/08/2021

