Oxytocin là một loại thuốc hormone được sử dụng để kích thích chuyển dạ, tăng cường co bóp tử cung và ngăn ngừa chảy máu sau sinh. Thuốc này thường được chỉ định cho phụ nữ mang thai đủ tháng hoặc gần đến ngày dự kiến sinh, đặc biệt khi có rủi ro cho mẹ hoặc thai nhi. Oxytocin cũng được sử dụng để hỗ trợ gây sảy thai và xử trí tình trạng băng huyết sau sinh.
Tổng quan về Oxytocin
Tên thuốc gốc (Hoạt chất)
- Oxytocin
Loại thuốc
- Thuốc thúc đẻ – Hormon thùy sau tuyến yên.
Dạng thuốc và hàm lượng
- Ống tiêm: 1 ml chứa 2 đơn vị, 5 đơn vị, 10 đơn vị.
- Ống tiêm có loại 2 đơn vị/2 ml, 5 đơn vị/5 ml.
- Lọ nhỏ mũi 5 ml, 40 đơn vị/ml.
- Chế phẩm có bán trên thị trường thường là dạng oxytocin tổng hợp, pH của dung dịch tiêm được điều chỉnh đến 2,5 – 4,5 bằng acid acetic. Hiệu lực của oxytocin được tính theo hoạt tính hạ huyết áp trên gà. Mỗi đơn vị tương ứng với 2 – 2,2 microgam hormon tinh khiết.
Chỉ định Oxytocin
- Chỉ định để kích thích chuyển dạ ở thai phụ đã đến hoặc gần đến ngày dự kiến sinh, đặc biệt khi việc tiếp tục thai kỳ có thể tiềm ẩn rủi ro cho mẹ hoặc thai nhi (ví dụ: mẹ bị đái tháo đường, tăng huyết áp, hoặc suy nhau thai).
- Tăng cường co bóp tử cung trong các trường hợp chuyển dạ kéo dài.
- Ngăn ngừa và xử trí tình trạng băng huyết sau sinh xuất phát từ tử cung co hồi kém.
- Hỗ trợ gây sảy thai, bao gồm sảy thai không hoàn toàn và thai chết lưu.
Dược lực học
Dược lực học
- Các cơn co thắt tử cung do oxytocin gây ra có mức độ đau thay đổi phụ thuộc vào cường độ của chúng. Là một hormone nonapeptid, oxytocin ngoại sinh thể hiện đầy đủ các tác dụng dược lý tương tự như oxytocin nội sinh. Thuốc tác động gián tiếp lên sự co bóp của cơ trơn tử cung thông qua việc tăng cường tính thấm natri của các sợi cơ tử cung.
- Nồng độ estrogen cao làm giảm ngưỡng đáp ứng của tử cung đối với oxytocin. Độ nhạy cảm của tử cung với oxytocin tăng lên theo tuổi thai, đạt mức cao nhất ở những người đang chuyển dạ, tạo ra các cơn co thắt giống hệt quá trình chuyển dạ tự nhiên. Trong giai đoạn đầu thai kỳ, chỉ những liều oxytocin rất lớn mới có thể kích thích tử cung co bóp.
- Khi tử cung đã đủ tháng, oxytocin tạo ra các cơn co thắt tương tự như chuyển dạ tự nhiên. Ở giai đoạn này, oxytocin không chỉ tăng cường biên độ và tần số co bóp mà còn làm giảm hoạt động của cổ tử cung, giúp cổ tử cung giãn nở hoàn toàn và tạm thời hạn chế lưu lượng máu đến tử cung.
- Oxytocin kích thích các tế bào cơ biểu mô bao quanh nang sữa co lại, đẩy sữa từ các nang vào ống dẫn lớn hơn, từ đó tạo điều kiện cho sữa chảy ra ngoài. Tuy nhiên, oxytocin không có tác dụng tăng cường sản xuất sữa.
- Thuốc có khả năng gây giãn mạch, làm tăng lưu lượng máu đến thận, động mạch vành và não. Huyết áp bệnh nhân thường duy trì ổn định, tuy nhiên, việc tiêm tĩnh mạch liều cao hoặc dung dịch không pha loãng có thể gây giảm huyết áp thoáng qua, kèm theo nhịp tim nhanh và tăng cung lượng tim do phản xạ. Sau giai đoạn hạ huyết áp ban đầu, có thể xảy ra tình trạng tăng huyết áp nhẹ nhưng kéo dài, đặc biệt nguy hiểm cho những bệnh nhân có tiền sử giảm thể tích máu hoặc bệnh tim. Vì vậy, khuyến cáo nên truyền tĩnh mạch sau khi pha loãng hoặc tiêm bắp thay vì tiêm tĩnh mạch trực tiếp.
Dược động học
Hấp thu
- Khi tiêm tĩnh mạch, tử cung đáp ứng gần như ngay lập tức.
- Sau khi tiêm bắp, phản ứng của tử cung xuất hiện trong khoảng thời gian từ 3 đến 5 phút.
- Nồng độ oxytocin trong huyết tương ở phụ nữ mang thai đủ tháng, sau khi truyền tĩnh mạch với tốc độ 4 milli đơn vị/phút, đạt mức 2 đến 5 micro đơn vị/mL.
Phân bố
- Oxytocin được phân bố rộng rãi khắp dịch ngoại bào.
- Một lượng nhỏ oxytocin có khả năng đi vào tuần hoàn của thai nhi.
- Mức độ gắn kết của oxytocin với protein huyết tương là không đáng kể.
- Thuốc có khả năng đi qua hàng rào nhau thai.
- Oxytocin có thể được tìm thấy với nồng độ thấp trong sữa mẹ.
Chuyển hóa
- Thuốc trải qua quá trình phân hủy nhanh chóng ở gan và thận.
- Enzym oxytocinase, một enzym tuần hoàn được sản xuất từ giai đoạn đầu thai kỳ, cũng có khả năng làm mất hoạt tính của oxytocin.
Thải trừ
- Chỉ một phần nhỏ oxytocin được thải trừ vào nước tiểu ở dạng không đổi.
- Thời gian bán hủy của oxytocin trong huyết tương dao động từ 3 đến 20 phút.
- Các chất chuyển hóa được bài tiết qua nước tiểu, trong khi chưa đến 1% oxytocin được bài tiết dưới dạng không đổi trong nước tiểu.
Tương tác thuốc Oxytocin
Tương tác với các thuốc khác
- Việc sử dụng cyclopropan gây mê kết hợp với oxytocin có thể dẫn đến tình trạng hạ huyết áp.
- Dùng đồng thời oxytocin với dinoproston có khả năng gây tăng trương lực cơ tử cung.
- Oxytocin có tác dụng làm chậm hiệu ứng gây mê của thiopental.
Tương kỵ thuốc
- Thuốc không tương hợp với fibrinolysin, norepinephrin bitartrat, proclorperazin edisylat và natri warfarin.
- Oxytocin cũng có thể tương kỵ với nhiều loại thuốc khác, tuy nhiên, khả năng tương hợp phụ thuộc vào nhiều yếu tố như nồng độ thuốc, độ pH và nhiệt độ.
Chống chỉ định thuốc Oxytocin
Không được dùng thuốc Oxytocin trong các trường hợp sau:
- Cơn co tử cung cường tính hoặc tắc nghẽn cơ học đường sổ thai.
- Tình trạng suy thai khi thai nhi chưa chào đời.
- Những trường hợp không thể sinh nở theo đường tự nhiên, ví dụ như: sự không tương xứng giữa kích thước đầu thai nhi và khung chậu của mẹ, ngôi thai bất thường, nhau tiền đạo, mạch tiền đạo, nhau bong non, sa dây rốn, tử cung dễ bị vỡ (do tiền sử mang thai nhiều lần, đa ối, hoặc có sẹo tử cung từ các phẫu thuật trước đó, bao gồm sẹo nạo thủng hoặc bóc nhân xơ tử cung).
- Tránh sử dụng thuốc kéo dài ở những bệnh nhân có tử cung bị đờ và không còn đáp ứng với oxytocin, hoặc những người mắc chứng nhiễm độc thai nghén, sản giật, hay bệnh tim mạch.
- Bệnh nhân có tiền sử quá mẫn cảm với thuốc.
Liều lượng & cách dùng Oxytocin
Liều dùng và cách sử dụng
Liều dùng
Người lớn
Gây chuyển dạ đẻ:
- Thông thường, một dung dịch oxytocin có nồng độ 10 mili đơn vị/ml sẽ được dùng. Dung dịch này được pha chế bằng cách thêm 5 đơn vị hoạt chất vào 500 ml dung dịch pha loãng.
- Trong những trường hợp cụ thể, có thể dùng dung dịch oxytocin nồng độ 20 mili đơn vị/ml, được pha chế bằng cách cho 10 đơn vị vào 500 ml dung dịch pha loãng. Liều lượng cũng như tốc độ truyền sẽ được điều chỉnh tùy theo đáp ứng của tử cung. Cần theo dõi liên tục nhịp tim thai nhi và các cơn co tử cung.
- Phải ngừng truyền oxytocin ngay lập tức nếu xuất hiện cơn co tử cung cường tính hoặc dấu hiệu suy thai. Đồng thời, cần cho sản phụ thở oxygen và thực hiện các biện pháp xử trí cần thiết khác.
- Tốc độ truyền khởi đầu là 1 – 2 mili đơn vị (0,001 – 0,002 đv)/phút, sau đó tăng dần thêm 1 – 2 mili đơn vị (0,001 – 0,002 đv)/phút, với khoảng cách tối thiểu 30 phút giữa mỗi lần tăng, cho đến khi đạt được kiểu cơn co tử cung giống chuyển dạ tự nhiên (thường là khoảng 3 – 4 cơn co trong 10 phút, thường đạt được ở liều 0,01 mili đơn vị/phút) và không vượt quá 0,02 mili đơn vị/phút.
- Nếu sau khi dùng tổng cộng 5 đơn vị mà cơn co tử cung vẫn không đạt được như chuyển dạ bình thường, cần ngưng thuốc (có thể lặp lại vào ngày kế tiếp và bắt đầu truyền với tốc độ 0,001 – 0,004 đơn vị/phút).
- Tốc độ truyền lên đến 6 mili đơn vị/phút (0,006 đv/phút) đã được ghi nhận có thể tạo ra nồng độ oxytocin trong huyết tương tương tự như khi chuyển dạ tự nhiên.
- Khi quá trình chuyển dạ đã diễn ra thuận lợi, việc tiêm truyền oxytocin có thể được giảm liều từ từ hoặc ngừng hẳn.
Mổ lấy thai:
- Tiêm tĩnh mạch chậm 5 đơn vị ngay sau khi thai nhi được lấy ra.
Phòng ngừa chảy máu sau sinh, sau khi đã sổ nhau thai:
- Ngay sau khi nhau thai bong, tiêm tĩnh mạch chậm 5 đơn vị (nếu đã truyền tĩnh mạch để khởi phát hoặc thúc đẩy chuyển dạ, cần tăng tốc độ truyền trong giai đoạn 3 và duy trì trong vài giờ kế tiếp).
- Chú ý: Có thể sử dụng ergometrin tiêm bắp thay thế oxytocin nếu không yêu cầu tác dụng nhanh.
Điều trị chảy máu sau sinh:
- Tiêm tĩnh mạch chậm 5 đơn vị (liều này có thể được nhắc lại). Trong những trường hợp nghiêm trọng, tiếp theo có thể truyền tĩnh mạch 40 đơn vị/500 ml dịch truyền với tốc độ phù hợp để kiểm soát tình trạng đờ tử cung.
- Chú ý: Cần tránh tiêm tĩnh mạch nhanh (do có thể gây hạ huyết áp tạm thời); bắt buộc phải tiêm chậm.
Sảy thai tự nhiên, đặc biệt là thai chết lưu:
- Tiêm tĩnh mạch chậm 5 đơn vị, sau đó nếu cần, truyền tĩnh mạch với tốc độ 0,02 – 0,04 đơn vị/phút hoặc nhanh hơn.
- Tổng liều trong 12 giờ không được vượt quá 30 đơn vị nhằm tránh nguy cơ ngộ độc nước kèm theo hạ natri huyết.
Cách dùng Oxytocin
- Thuốc được sử dụng thông qua đường tiêm tĩnh mạch hoặc tiêm truyền tĩnh mạch.
- Khi truyền tĩnh mạch, cần dùng thiết bị kiểm soát tốc độ truyền. Trước khi truyền tĩnh mạch, thuốc thường cần được pha loãng với dung dịch natri clorid 0,9% hoặc dung dịch Ringer lactat hoặc dung dịch dextrose 5% để đạt nồng độ thích hợp.
Tác dụng phụ của Oxytocin
*Thường gặp*
- Chưa ghi nhận dữ liệu lâm sàng.
*Ít gặp*
- Tác dụng chống bài niệu của thuốc có thể dẫn đến ngộ độc nước thoáng qua, biểu hiện bằng đau đầu và buồn nôn.
*Hiếm gặp*
- Các phản ứng dị ứng nghiêm trọng như phản vệ, phát ban da, nổi mày đay, và phù nề thanh quản.
- Tăng trương lực cơ tử cung, co thắt mạnh, co cứng tử cung hoặc vỡ tử cung.
Lưu ý khi dùng Oxytocin
Lưu ý chung
- Việc sử dụng oxytocin chỉ được phép thực hiện bởi các chuyên gia y tế có kinh nghiệm tại các cơ sở bệnh viện được trang bị đầy đủ phương tiện hồi sức cấp cứu và phẫu thuật.
- Trong quá trình truyền oxytocin, cần theo dõi liên tục các chỉ số quan trọng như cơn co tử cung, nhịp tim của cả thai nhi và người mẹ, huyết áp của mẹ, và nếu có thể, áp lực bên trong tử cung nhằm phòng tránh các biến chứng.
- Nếu tình trạng co tử cung trở nên quá mức, cần ngừng ngay lập tức việc truyền oxytocin. Thông thường, sự kích thích co tử cung do oxytocin sẽ giảm nhanh chóng sau khi ngừng thuốc.
- Do oxytocin có thể gây một số tác dụng giữ nước, khuyến cáo hạn chế truyền dịch vào cơ thể và tránh dùng các dung dịch tiêm truyền có nồng độ natri thấp. Cần tránh sử dụng oxytocin liều cao kéo dài, đồng thời theo dõi chặt chẽ lượng dịch nhập vào và thải ra trong suốt thời gian điều trị.
Lưu ý với phụ nữ có thai
- Oxytocin không được chỉ định trong ba hoặc sáu tháng đầu thai kỳ, ngoại trừ các trường hợp sảy thai tự nhiên hoặc cần gây sảy thai.
- Khi được sử dụng theo đúng chỉ định, oxytocin không gây dị tật thai nhi, tuy nhiên có thể dẫn đến các tác dụng phụ không mong muốn khác không liên quan đến quái thai.
Lưu ý với phụ nữ cho con bú
- Một lượng nhỏ oxytocin có khả năng đi vào sữa mẹ.
- Trong trường hợp cần điều trị oxytocin sau sinh (ví dụ để kiểm soát chảy máu nghiêm trọng), người mẹ chỉ nên cho con bú trở lại sau khi đã ngừng thuốc ít nhất 1 ngày.
Lưu ý khi lái xe và vận hành máy móc
- Hiện chưa có báo cáo nào về ảnh hưởng của thuốc đối với khả năng lái xe hay vận hành máy móc.
Quá liều và cách xử lý
Quá liều Oxytocin và xử trí
Quá liều và độc tính
- Tình trạng quá liều có thể dẫn đến suy thai, ngạt thở và tử vong của thai nhi. Ngoài ra, nó có thể gây tăng trương lực cơ tử cung, co cứng tử cung, vỡ tử cung, tổn thương mô mềm, bong nhau non sớm và tắc mạch do nước ối.
Cách xử lý khi quá liều
- Khi phát hiện quá liều, cần ngưng ngay lập tức việc sử dụng oxytocin. Các biện pháp điều trị triệu chứng và hỗ trợ sẽ được áp dụng.
Quên liều và xử trí
- Vì đây là thuốc được thực hiện bởi nhân viên y tế và chỉ dùng khi thực sự cần thiết, nên khả năng quên liều là rất thấp hoặc không xảy ra.
Nguồn tham khảo
Tên thuốc: Oxytocin
Ngày cập nhật: 17/7/2021
Drugs: https://www.drugs.com/monograph/oxytocin.html
Drugs: https://www.drugs.com/monograph/oxytocin.html
EMC: https://www.medicines.org.uk/emc/product/1971/smpc
EMC: https://www.medicines.org.uk/emc/product/1971/smpc
Dược thư Quốc gia Việt Nam 2015
Dược thư Quốc gia Việt Nam 2015

