Nọc rắn hổ mang có công dụng chữa bệnh như thế nào?

bởi thuvienbenh

Nọc rắn hổ mang không chỉ là chất độc mà còn là nguồn dược liệu quý giúp kháng viêm và phục hồi chức năng hệ vận động hiệu quả. Nhờ khả năng ức chế dẫn truyền thần kinh gây đau, vị thuốc này mang lại sự nhẹ nhõm cho người bệnh khớp mãn tính. Việc ứng dụng nọc rắn trong y tế đòi hỏi quy trình chiết xuất công nghệ cao, giúp biến độc tố thành phương pháp trị liệu an toàn, mang lại sự dẻo dai và khỏe mạnh.

Tìm hiểu chung về Nọc rắn hổ mang

Tên gọi, danh pháp

  • Tên Việt: Nọc rắn hổ mang.
  • Tên gọi khác: Nọc rắn hổ mang khô.
  • Danh pháp khoa học: Naja naja L., Naja hannah Cantor, thuộc họ Elapidae (họ rắn hổ).

Đặc điểm tự nhiên

  • Naja naja L.: Ở miền Nam người dân gọi loài này là hổ đất, còn miền Bắc thường gọi là hổ mang, hổ trâu, cùng thuộc họ Elapidae — họ rắn hổ. Trong các tài liệu phương Tây, rắn này được ghi nhận với tên cobra hoặc serpent à lunette (rắn mang kính, nhãn kính xà). Chiều dài thân có thể đạt tới 2m. Về màu sắc, loài này thường mang tông màu nâu đen với sắc thái đơn sắc. Khi bị kích thích hoặc tức giận, rắn sẽ nâng đầu cao, duỗi thân phía trên thẳng đứng, đồng thời banh cổ ra phát ra tiếng phì phì đặc trưng (từ đó có tên gọi con phì, hổ phì). Trên cổ có một vệt trắng lớn hình mặt trăng (rõ rệt ở các cá thể non, mờ dần ở cá thể già). Tại Ấn Độ và một số khu vực của Việt Nam có quần thể rắn mang hai điểm trắng gần nhau trên cổ giống như hai kính mắt, nên được gọi là rắn đeo kính. Phần dưới đầu và cổ có màu trắng, được phân cách với thân mình tối bằng một vạch đen và vạch màu nhạt hơn. Cấu trúc vảy quanh cổ có từ 21 đến 35 hàng, ở giữa thân có 17 đến 25 hàng vảy. Loài rắn này có tính cách hung hăng, dễ tức giận, phòng vệ rất tích cực khi bị tấn công, tuy nhiên thường có xu hướng trốn tránh nếu không bị qu騷. Hoạt động suốt ngày lẫn đêm, nhưng chủ yếu hoạt động vào ban đêm.
  • Naja hannah Cantor: Còn được gọi là đại nhân kính xà — rắn hổ mang chúa (cobra royal). Thân dài có thể lên tới 4–5m, với chiều dài trung bình khoảng 3,4m. Loài này có thói quen ẩn nấp trong hốc cây vào ban ngày và chỉ hoạt động vào ban đêm, do vậy tai nạn cắn thường xảy ra khi con người phá hoang. Quốc tế gọi loài này là King cobra, Naja bungare-hamadryas hay Ophiophage. Cổ banh ra kém hơn so với Naja naja L., không có điểm trắng trên cổ; cá thể trưởng thành mang màu tối đều, trong khi cá thể non có nhiều vạch ngang hẹp và sáng hơn. Số vảy quanh cổ từ 17 đến 21, ở giữa thân là 15 hàng.
Xem thêm:  Trư Linh Thang: Bài Thuốc Cổ Truyền Điều Trị Phù Thũng, Tiểu Ít Hiệu Quả

Phân bố, thu hái, chế biến

  • Rắn hổ mang thường được bắt ở dọc sông Hoàng Hà, bãi Trung Hà, Tứ Tổng, tại các bãi gạch, bụi tre, bờ đê. Ngoài ra, loài này còn phổ biến ở ven sông Phả Lai (Hà Bắc), dọc sông Hát Mông (Hà Tây), thường sinh sống trong những hang động cao ráo, sạch sẽ.
  • Naja naja L.: Loài này rất phổ biến khắp Việt Nam, từ vùng núi đến vùng đồng bằng. Rắn bơi giỏi nhưng không sinh sống dưới nước.
  • Naja hannah Cantor: Loài này nguy hiểm hơn, phân bố rộng rãi trên toàn lãnh thổ nước ta, cả miền núi lẫn miền đồng bằng.
  • Quy trình lấy nọc tương đối đơn giản: để rắn cắn vào miệng đĩa petri, sau đó dùng tay xoa nhẹ và bóp vừa phải vào hai tuyến nọc ở phía sau tai, nọc sẽ chảy ra vào đĩa. Cần lưu ý tránh bóp quá mạnh vì nọc sẽ trộn lẫn với dãi và máu, làm giảm chất lượng nọc thu được. Nọc vừa chảy ra có tính chất lỏng, hơi sánh, màu hơi vàng nhạt, có thể được xử lý bằng cách đông khô hoặc sấy trong bình có chứa silicagel. Nọc đã khô có khả năng bảo quản hàng chục năm mà vẫn giữ được hoạt tính. Nọc được ứng dụng làm nguyên liệu thuốc hoặc xuất khẩu. Đối với mục đích nghiên cứu, có thể thu được đến 1g nọc độc từ quá trình vắt nọc.

Bộ phận sử dụng

  • Nọc rắn hổ mang.

Thành phần hóa học

  • Nọc độc của rắn hổ mang đã được các nhà nghiên cứu phân tích khá chi tiết, tuy nhiên do sự đa dạng về loài rắn nên các đặc điểm dưới đây chỉ mang tính chất tổng quát. Hiện tại, các chuyên gia nhận thấy rằng tác dụng độc hại của nọc rắn không phát sinh từ một hoạt chất đơn lẻ như alcaloid hay glucozit, mà rất có thể bắt nguồn từ những enzyme (men) như proteaza, phosphatidaza, hoặc từ các phức chất có khả năng tác động lên hệ thần kinh hoặc ảnh hưởng đến máu cũng như thành mạch máu.
  • Nọc độc được tổng hợp và tích tụ trong tuyến nọc độc, một cơ quan giải phẫu nằm phía sau ổ mắt. Ophiotoxin hay cobratoxin — chất độc của loài rắn hổ mang Naja tripudians — có dạng bột màu trắng vàng nhạt, có khả năng hòa tan trong nước; để bảo tồn hiệu lực của chất này cần tránh tiếp xúc với không khí và độ ẩm cao.
  • Nọc của rắn hổ mang chứa hai loại độc tố chính là cytotoxin và neurotoxin, trong đó neurotoxin bao gồm cả alpha-neurotoxin (α-Neurotoxin) và độc tố ba ngón tay (3FTx).
  • Các thành phần độc hại khác trong nọc rắn tác động mạnh mẽ lên hệ tim mạch. Khí sunfuđiôxít (SO2) có khả năng làm mất đi hoạt tính của neurotoxin từ rắn hổ mang cobra. Khi tiêm nọc độc của rắn hổ mang cobra qua đường tiêm mạch vào phổi của mèo hoặc chuột bạch, hiện tượng giải phóng chất histamin sẽ xảy ra. Ngoài ra, các phân tích cho thấy nọc rắn chứa nồng độ rất cao chất kẽm (Zn); ion kẽm này là yếu tố thiết yếu để enzyme trong nọc rắn hoạt động và đóng vai trò tương tự như các ion kim loại khác trong các enzyme (diastaza).
Xem thêm:  Nhục Thung Dung: “Nhân Sâm Sa Mạc” Cho Sức Khỏe Nam Giới

Công dụng của Nọc rắn hổ mang

Theo y học cổ truyền

  • Trong truyền thống y học Việt Nam, nọc rắn hổ mang được công nhận là một trong những vị thuốc có "danh vọng lâu đời" trong điều trị các rối loạn xương khớp. Theo tài liệu "Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam" do Giáo sư Đỗ Tất Lợi biên soạn, nọc rắn được ghi nhận có tác dụng chỉ thống, tức là ức chế và giảm nhẹ cơn đau ở các khớp. Trong hệ thống y học Đông y, nọc rắn hổ mang được chế tác thành cao thuốc và xếp hạng ưu tiên hàng đầu, với khả năng điều trị hiệu quả các tình trạng như viêm khớp, thấp khớp, tê liệt, đau nhức xương cốt. Bên cạnh những lợi ích rõ rệt đối với các bệnh lý xương khớp, bài thuốc này còn được các quý ông lựa chọn rộng rãi nhờ vào công dụng cải thiện sức sống và tăng cường sinh lực.

Theo y học hiện đại

  • Nọc rắn hổ mang là thành phần duy nhất chứa chất độc trong cơ thể rắn hổ mang. Trong ứng dụng y học hiện đại, nọc rắn thường được chế biến dưới dạng cao dán hoặc cao bôi dùng ngoài da. Dược liệu này được sử dụng chủ yếu để điều trị các bệnh lý viêm khớp, viêm dây thần kinh, thấp khớp. Ngoài ra, nọc rắn còn thể hiện khả năng ức chế sự tăng sinh của một số dòng tế bào ung thư, đồng thời có tác dụng hạ huyết áp ở các bệnh nhân cao huyết áp.

Liều dùng và cách dùng Nọc rắn hổ mang

  • Thuốc tiêm nọc rắn: Mỗi ống 1ml chứa 0,1mg nọc rắn khô hòa tan trong dung dịch sinh lý đẳng trương. Theo các kết quả thí nghiệm lâm sàng đã thực hiện, nọc rắn hổ mang thể hiện khả năng giảm đau kéo dài mà không sinh ra sự phụ thuộc, được áp dụng rộng rãi trong điều trị đau liên quan đến bệnh ung thư.
  • Ngày đầu tiên, liều khởi động là 0,5ml (tương đương 0,05mg nọc rắn hoặc 5 đơn vị chuột, được định nghĩa là lượng nọc cần thiết để gây tử vong cho một con chuột nhắt có cân nặng 25g). Chỉ tiêm dưới da hoặc tiêm cơ. Tuyệt đối cấm tiêm vào mạch máu. Trước khi thực hiện tiêm, tránh khử trùng vị trí da bằng cồn iốt vì chất này có khả năng phá hủy hoạt tính của nọc rắn. Thường cách nhau 7 – 8 ngày mới thực hiện lần tiêm tiếp theo.
  • Trong các lần tiêm sau, nếu bệnh nhân dung nạp tốt có thể tăng dần liều lên 0,6ml, 0,7ml cho đến 1ml mỗi lần. Nếu bệnh nhân không dung nạp, cần dừng sử dụng.
  • Cao dán nọc rắn: Cao dán nọc rắn là một phương pháp điều trị bệnh phong thấp được nhiều bệnh nhân lựa chọn ứng dụng. Quy trình sử dụng gồm: làm sạch vùng da dự định dán, đảm bảo hoàn toàn khô ráo, tách lớp chắn phía ngoài, dán lên vị trí đau từ 1 – 2 lần mỗi ngày, mỗi lần giữ 12 – 24 giờ. Bệnh nhân cần theo dõi kỹ các điều kiện cụ thể của bản thân để điều chỉnh phương pháp và tần suất dán cao nhằm tối ưu hóa hiệu quả điều trị.
Xem thêm:  Râu ngô có những công dụng chữa bệnh gì? Tìm hiểu những vị thuốc phổ biến

Bài thuốc kinh nghiệm

  • Thuốc xoa dùng trong điều trị phong thấp khớp và viêm cơ mang tên Vipratox (Cộng hòa liên bang Đức) hoặc Viprosalum (Liên Xô cũ). Thành phần trong mỗi 100g Vipratox gồm: 0,1mg nọc rắn, 6g salixylat metyl và 3g long não.
  • Dựa trên nền tảng các vị dược liệu chữa đau thấp khớp sẵn có trong nước, chúng tôi đã xây dựng một bài thuốc xoa bóp chứa nọc rắn với thành phần như sau: Nọc rắn hổ mang khô 0,1mg, tinh dầu quế 1ml, tinh dầu hồi 1ml, tinh dầu khuynh diệp 5ml, tinh dầu hương nhu 0,5ml, long não 3g, cộng với tá dược (kem stearat natri) để đủ 100g thuốc. Cách dùng: lấy 3 – 5g thuốc bôi trực tiếp lên vùng đau, thực hiện xoa bóp đều tay. Tần suất sử dụng là 1 – 2 hoặc 3 lần trong một ngày.

Lưu ý khi dùng Nọc rắn hổ mang

  • Nọc rắn hổ mang phải được bảo quản và xử lý theo quy định dành cho các chất độc cực kỳ nguy hiểm, vì một sơ suất nhỏ có thể dẫn đến hậu quả tử vong.

Nguồn tham khảo

Cây thuốc và vị thuốc Việt Nam_ Đỗ Tất Lợi.

Tra cứu dược liệu: https://tracuuduoclieu.vn/ran.html

Wikipedia.org: https://vi.wikipedia.org/wiki/R%E1%BA%AFn_h%E1%BB%95_ch%C3%BAa

Bài viết này có hữu ích không?
0Không0