Ngấy hương là dược liệu có tác dụng hỗ trợ tiêu hóa, tốt cho gan, với thành phần hóa học chứa các hợp chất triterpen và tannin. Cây này được sử dụng để điều trị các vấn đề tiêu hóa, bổ dưỡng và tăng cường sức mạnh, cũng như giải độc và tiêu phù. Bài viết sẽ cung cấp thông tin về cách dùng, liều dùng và các bài thuốc kinh nghiệm từ Ngấy hương, giúp người đọc hiểu rõ hơn về công dụng và cách sử dụng của dược liệu này.
Tìm hiểu chung về Ngấy hương
Tên gọi, danh pháp
- Ngấy hương còn được gọi bằng các tên địa phương khác như cây Ngấy, Ngấy chĩa lá, Ngũ gia bì hương, Đũm hương, Tu hú, hoặc Mác tin tang (theo ngôn ngữ người Tày). Danh pháp khoa học: Rubus cochinchinensis Tratt., với các tên đồng nghĩa gồm Rubus fruticosus Lour, Rubus playfairii Hemsl., và cây này thuộc họ Hoa hồng (Rosaceae).
Đặc điểm tự nhiên
- Ngấy hương là loài cây bụi leo, có khả năng dựa vào các cây xung quanh để phát triển. Thân nhánh ở giai đoạn non có phủ lông dày, khi già thân trở nên nhẵn bóng nhưng mang các gai cong nhọn. Cấu trúc lá là lá kép chân vịt với 5 lá chét mọc cách nhau, còn các lá kép ở phần ngọn thường chỉ còn 3 lá chét.
- Phiến lá chét có hình dáng mác, gốc lá hẹp nhọn, đầu lá nhọn, trong đó lá chét ở vị trí giữa phát triển lớn hơn các lá khác, mép lá có những khía răng sắc nét. Mặt dưới của lá phủ một lớp lông mịn màu trắng ngà hoặc vàng xỉn. Cuống lá kép dài khoảng 3 – 6 cm, có lông và những gai nhỏ mọc trên bề mặt, lá kèm rụng sớm trong quá trình sinh trưởng.
- Cụm hoa xuất hiện tại vị trí kẽ lá gần phần ngọn cành, tập hợp thành những chùm hình chùy đặc trưng. Đài hoa gồm 5 phần răng nhỏ, bề mặt phủ lông tập trung ở mép và phía trong, tràng hoa bao gồm 5 cánh hoa mỏng mảnh và ngắn hơn đài, có màu trắng. Nhị rất nhiều, sắp xếp theo lớp, chỉ nhị có dạng dẹt.
- Lá noãn phát triển rất nhiều. Quả là dạng phức hợp có hình cầu hoặc hình trứng, giữ lại các phần đài hoa, được cấu tạo từ nhiều quả hạch con, khi trưởng thành chuyển sang màu đỏ hoặc hơi đen, có thể ăn được.
Phân bố, thu hái, chế biến
Phân bố
- Ngấy hương là loài đặc hữu của khu vực Đông Dương, tuy nhiên phần lớn quần thể tập trung chủ yếu ở Việt Nam, với những cây lẻ tẻ phân bố ở Lào và Campuchia. Ngoài ra, cây còn có mặt ở các khu vực biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc.
- Tại Việt Nam, cây mọc hoang dã chủ yếu ở các vùng rừng núi thấp (dưới 1000 m), vùng trung du, và đôi lúc cũng xuất hiện ở vùng đồng bằng. Do cây ưa thích ánh sáng mạnh, nên thường được tìm thấy ở vùng ven rừa hoặc được người dân trồng làm hàng rào bảo vệ tại nương rẫy nhờ tính chất gai nhiều.
Thu hái và chế biến
- Thân, lá, quả được khai thác quanh năm, tuy nhiên mùa hè vẫn là thời kỳ chính để thu hái, sau đó dây phơi nắng khô và bảo quản để sử dụng dần dần.
Bộ phận sử dụng
- Phần thân, lá là bộ phận chính được khai thác, trong một số trường hợp quả cũng được đưa vào sử dụng.
Thành phần hóa học
- Ngấy hương chứa các hợp chất thuộc nhóm triterpen, đây là các hoạt chất quan trọng đóng vai trò trong các tác dụng dược lý của dược liệu. Bên cạnh đó, dược liệu còn tích tụ lượng đáng kể tannin, một nhóm polyphenol có đặc tính kháng viêm và giúp gia cố chức năng tiêu hóa.
Công dụng của Ngấy hương
Theo y học cổ truyền
- Ngấy hương sở hữu vị chua với thành phần ngọt nhẹ, tính bình và mùi thơm đặc trưng, tác dụng quy vào kinh Tỳ và Thận. Theo kinh nghiệm dân gian và ghi nhận trong y văn, dược liệu này phát huy công năng hỗ trợ tiêu hóa, bổ dưỡng năm tạng, ích tính khí, tăng cường sức mạnh của mạch và chí, giải độc và tiêu phù.
Theo y học hiện đại
- Tác dụng trên chỉ số protein huyết: Khi sử dụng cao nước từ quả Ngấy hương cho chuột thực nghiệm uống liên tục trong thời gian dài, kết hợp với khẩu phần ăn thiếu hụt protein, các nhà nghiên cứu ghi nhận mức độ protein toàn phần tăng lên đáng kể so với nhóm đối chứng không sử dụng dược liệu. Hiện tượng này được giải thích là do Ngấy hương ức chế quá trình phân hủy hoặc thúc đẩy quá trình tổng hợp protein.
- Quả Ngấy hương có giá trị dinh dưỡng cao và hương vị dễ chấp nhận. Thân và lá sau khi phơi khô, thái nhỏ, rang để tăng hương vị, sau đó sắc uống hoặc dùng thay trà, đặc biệt phù hợp cho phụ nữ sau sinh để nhanh chóng phục hồi thể lực. Dược liệu cũng được khuyến cáo cho những người có chức năng tiêu hóa suy yếu, biểu hiện ăn không tiêu, đầy bụng, phù nề, viêm mô gan, vàng da. Sử dụng lâu dài được ghi nhận có tác dụng loại bỏ tính hàn thấp, cải thiện sắc da, làm tóc bóng đen và hỗ trợ tuổi thọ. Thân và lá tươi được sắc uống để giải nhiệt, có thể kết hợp với các vị dược liệu khác nhằm điều trị nước tiểu vàng và cảm giác buốt khi tiểu.
Liều dùng và cách dùng Ngấy hương
- Quả: Liều dùng hàng ngày từ 6 – 12 g. Thân, lá: Liều dùng hàng ngày từ 15 – 30 g.
Bài thuốc kinh nghiệm
Bài thuốc chữa phù thũng
- Ngấy hương 20 g, rễ Cỏ tranh 10 g, Cỏ mần trầu 10 g. Tất cả các nguyên liệu được thái nhỏ, rang vàng, sau đó sắc với 400 ml nước cho đến khi còn lại 100 ml, chia làm 2 lần uống trong ngày. Trong trường hợp có tiểu ra máu, bổ sung thêm Dừa cạn 10 g.
Bài thuốc chữa cảm thấp, nôn mửa, gai lạnh, ăn không tiêu
- Lá ngấy hương 40 – 50 g sau khi phơi khô được sắc uống. Có thể phối hợp với Gừng sống (3 g) và lá Sả (20 g).
Bài thuốc chữa vàng da
- Ngấy hương 20 g, lá Vằng 10 g, cả hai thứ phơi khô, tán nhỏ, sắc uống. Thời gian sử dụng từ 7 – 10 ngày.
Bài thuốc chữa viêm gan, đau gan
- Ngấy hương 30 g, Khúc khắc, Đảng sâm, Rau má mỗi thứ 20 g, Râu bắp và vỏ Núc nác mỗi thứ 15 g, lá Chanh 5 g. Trong trường hợp có sốt, bổ sung Kim ngân 20 g. Tất cả các vị được thái nhỏ, rang vàng, sau đó sắc uống. Đối với trẻ em, liều lượng được điều chỉnh bằng 1/3 đến 2/3 liều dành cho người lớn.
Bài thuốc chữa tóc khô hay rụng
- Lấy quả Ngấy hương, vừa ăn tươi vừa ép lấy nước, sau đó bôi trực tiếp vào chân tóc.
Lưu ý khi dùng Ngấy hương
- Chi Rubus phân bố ở Việt Nam bao gồm khoảng 50 loài khác nhau, trong đó một số loài được sử dụng như dược liệu hoặc có quả ăn được. Do đó, khi tiến hành thu hái Ngấy hương, cần chú ý phân biệt cẩn thận để tránh nhầm lẫn với các loài khác trong cùng chi Rubus.
Nguồn tham khảo
Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi, trang 395.
“Triterpenes from Rubus cochinchinensis”, 1999, Trinh Phuong Lien, Christine Kamperdick, Tran Van Sung, Günter Adam, Phytochemistry, Volume 50, Issue 3, Tr. 463-465
Cây thuốc và động vật làm thuốc Việt Nam (tập 2), trang 375 – 376.

