Adenosine: Thuốc chống loạn nhịp tim, liều dùng và chỉ định

bởi thuvienbenh

Adenosine là một loại thuốc chống loạn nhịp tim, được sử dụng để điều trị các cơn nhịp nhanh kịch phát trên thất và hỗ trợ chẩn đoán các dạng nhịp nhanh trên thất. Thuốc hoạt động bằng cách kích hoạt các thụ thể purine, gây giãn mạch và làm chậm dẫn truyền nhịp tim. Adenosine thường được tiêm tĩnh mạch với liều khởi đầu là 6 mg và có thể được lặp lại sau 1-2 phút nếu cần. Sử dụng thuốc cần được giám sát chặt chẽ do nguy cơ gây hạ huyết áp, block nhĩ thất và các tác dụng phụ khác.

Tổng quan về Adenosine

Tên thuốc gốc (Hoạt chất)

  • Adenosine (Adenosin)

Loại thuốc

  • Thuốc chống loạn nhịp tim

Dạng thuốc và hàm lượng

  • Dung dịch tiêm: 6 mg/2 ml (tiêm tĩnh mạch), 12 mg/4 ml (tiêm tĩnh mạch), 30 ml (3 mg/ml) (truyền tĩnh mạch).

Chỉ định Adenosine

  • Thuốc được chỉ định để nhanh chóng khôi phục nhịp xoang bình thường cho các cơn nhịp nhanh kịch phát trên thất, bao gồm cả những trường hợp liên quan đến Hội chứng Wolff-Parkinson-White.
  • Ở bệnh nhân nhi từ 0 đến 18 tuổi, thuốc dùng để chuyển nhanh các cơn nhịp nhanh kịch phát trên thất trở lại nhịp xoang bình thường.
  • Ngoài ra, thuốc còn được sử dụng nhằm hỗ trợ chẩn đoán các dạng nhịp nhanh trên thất có phức bộ QRS rộng hoặc hẹp.

Dược lực học

  • Adenosine hoạt động như một tác nhân gây giãn mạch hiệu quả trên hầu hết các mạch máu; tuy nhiên, nó lại gây co mạch ở các tiểu động mạch hướng tâm thận và tĩnh mạch gan.
  • Cơ chế tác dụng dược lý của Adenosine được thực hiện bằng cách hoạt hóa các thụ thể purine, cụ thể là thụ thể adenosine A1 và A2, nằm trên bề mặt tế bào.
  • Dù cơ chế chính xác mà sự kích hoạt thụ thể adenosine dẫn đến giãn cơ trơn mạch máu vẫn chưa được làm rõ, nhưng các bằng chứng hiện có cho thấy sự ức chế dòng ion canxi đi vào, việc hạn chế hấp thu canxi, và sự hoạt hóa enzym adenylate cyclase thông qua thụ thể A2 trong các tế bào cơ trơn.
  • Ngoài ra, Adenosine có khả năng giảm sức căng thành mạch máu thông qua việc điều hòa quá trình dẫn truyền thần kinh giao cảm.
  • Việc thu nhận Adenosine vào bên trong tế bào diễn ra nhờ một hệ thống vận chuyển nucleoside chuyên biệt qua màng tế bào.
  • Sau khi vào tế bào, Adenosine bị phosphoryl hóa nhanh chóng bởi enzym adenosine kinase để tạo thành adenosine monophosphate, hoặc bị khử amin bởi enzym adenosine deaminase để chuyển thành inosine.
  • Các chất chuyển hóa nội bào này của Adenosine không thể hiện hoạt tính trên mạch máu.
  • Các nghiên cứu sử dụng ống thông Doppler nội mạch đã chỉ ra rằng việc truyền Adenosine tiêm tĩnh mạch với liều 140 µg/kg/phút làm tăng tối đa lưu lượng máu mạch vành (so với papaverine nội mạch) ở khoảng 90% bệnh nhân, trong vòng 2-3 phút sau khi bắt đầu truyền.
  • Lưu lượng máu mạch vành phục hồi về mức ban đầu trong vòng 1-2 phút sau khi ngừng truyền Adenosine.
  • Sự tăng lưu lượng máu do Adenosine gây ra ở các động mạch vành bình thường lớn hơn rõ rệt so với ở các động mạch bị xơ vữa.
  • Adenosine có khả năng phân phối lại dòng máu mạch vành từ vùng nội tâm mạc sang thượng tâm mạc, và điều này có thể làm giảm lưu lượng máu mạch vành, dẫn đến tình trạng thiếu máu cục bộ.
  • Truyền Adenosine liên tục ở người đã cho thấy khả năng giảm áp lực động mạch trung bình theo liều ở mức thấp và một tác dụng tăng nhịp tim dương tính phụ thuộc vào liều, điều này nghiêng về khả năng là do kích thích hệ thần kinh giao cảm.
  • Hiệu ứng tăng nhịp tim phản xạ này xuất hiện chậm hơn so với tác dụng làm chậm nhịp tim và dẫn truyền âm tính.
  • Sự khác biệt về tác dụng này chủ yếu được ghi nhận sau khi tiêm bolus, điều này lý giải khả năng ứng dụng của Adenosine như một liệu pháp cho các rối loạn nhịp trên thất khi dùng dạng bolus, hoặc như một thuốc giãn mạch vành khi dùng dưới dạng truyền tĩnh mạch.
  • Mặc dù việc truyền Adenosine có tác động đến dẫn truyền tim, nhưng thuốc vẫn cho thấy an toàn và hiệu quả khi dùng chung với các loại thuốc tim mạch khác, bao gồm thuốc chẹn beta adrenergic, thuốc đối kháng kênh canxi, nitrat, thuốc ức chế men chuyển, thuốc lợi tiểu, digitalis hoặc các thuốc chống loạn nhịp tim.
Xem thêm:  Cefazolin - Kháng sinh cephalosporin thế hệ 1: Công dụng, liều dùng và lưu ý

Dược động học

Hấp thu và Phân bố

  • Khi được tiêm vào tĩnh mạch, adenosine nhanh chóng biến mất khỏi hệ tuần hoàn do thuốc xâm nhập vào bên trong tế bào, chủ yếu là hồng cầu và các tế bào nội mô mạch máu.

Chuyển hóa và Thải trừ

  • Trong môi trường nội bào, adenosine trải qua quá trình chuyển hóa nhanh chóng; nó được phosphoryl hóa thành adenosine monophosphat nhờ enzyme adenosinekinase, hoặc được khử amin thành inosin nhờ enzyme adenosine desaminase có trong bào tương.
  • Adenosine ngoại bào cũng bị loại bỏ nhanh chóng do xâm nhập vào tế bào, với thời gian bán thải trong máu toàn phần dưới 10 giây.
  • Chức năng gan và thận không cần thiết cho quá trình hoạt hóa hay bất hoạt adenosine, do đó, tình trạng suy gan hoặc suy thận không ảnh hưởng đến hiệu quả hoặc khả năng dung nạp của thuốc.

Tương tác thuốc Adenosine

Tương tác với các thuốc khác

  • Cần thận trọng khi sử dụng adenosine cùng lúc với các thuốc khác có khả năng làm chậm dẫn truyền nhĩ thất, ví dụ digoxin hoặc verapamil, bởi vì có thể dẫn đến suy tâm thu hoặc rung thất, mặc dù những biến cố này hiếm khi xảy ra.
  • Các thuốc khác ảnh hưởng đến tim, bao gồm thuốc chẹn beta-adrenergic, thuốc chẹn kênh calci, thuốc ức chế men chuyển dạng angiotensin và quinidin, cần được xem xét cẩn thận khi dùng chung với adenosine do chúng có thể tạo ra tác dụng hiệp đồng trên nút xoang và nút nhĩ thất.
  • Dipyridamol ngăn chặn sự hấp thu adenosine vào tế bào, dẫn đến tăng cường tác dụng của adenosine; trong trường hợp cần thiết phải dùng kết hợp, liều adenosine phải được điều chỉnh giảm.

Tương tác với thực phẩm

  • Nicotin có thể làm gia tăng tác động trên hệ tuần hoàn của adenosine.
  • Các dẫn xuất methylxanthin như theophylin và cafein là những chất đối kháng mạnh với adenosine; nếu cần sử dụng đồng thời, liều adenosine có thể cần được tăng lên.
  • Bệnh nhân nên kiêng các loại thực phẩm hoặc đồ uống chứa cafein trong khoảng thời gian từ 12 đến 24 giờ trước khi thực hiện kỹ thuật xạ hình cơ tim có dùng adenosine.
  • Việc tiêu thụ thực phẩm và đồ uống chứa xanthine (như trà, cà phê, sô cô la và cola) cần được tránh ít nhất 12 giờ trước khi dùng adenosine.

Chống chỉ định thuốc Adenosine

  • Không dùng cho bệnh nhân có tiền sử quá mẫn cảm với adenosine.
  • Chống chỉ định ở những người đã được chẩn đoán mắc hội chứng suy nút xoang hoặc block nhĩ thất độ hai hoặc ba nhưng chưa được cấy máy tạo nhịp tim, vì có nguy cơ xảy ra ngừng xoang kéo dài hoặc block nhĩ thất hoàn toàn.
  • Không sử dụng cho bệnh nhân có hội chứng QT dài, tình trạng hạ huyết áp nghiêm trọng hoặc suy tim mất bù.
  • Cấm dùng cho người mắc bệnh hen phế quản và các bệnh lý tắc nghẽn phế quản phổi, bởi vì adenosine có thể làm trầm trọng thêm tình trạng co thắt phế quản.
Xem thêm:  Triclosan: Chất kháng khuẩn dùng trong mỹ phẩm và đồ dùng cá nhân

Liều lượng & cách dùng Adenosine

Người lớn

  • Liều khởi đầu khuyến cáo là 6 mg, tiêm nhanh vào tĩnh mạch trong khoảng 1 đến 3 giây; nếu sử dụng đường tĩnh mạch trung tâm, liều này giảm xuống còn 3 mg.
  • Trường hợp không đạt được hiệu quả trong vòng 1 đến 2 phút, có thể tiêm tĩnh mạch nhanh thêm 12 mg và lặp lại liều này một lần nếu cần.
  • Không khuyến nghị sử dụng liều đơn vượt quá 12 mg.
  • Khi cần dùng đồng thời với dipyridamol, liều adenosine nên được giảm xuống một phần tư so với liều thông thường.
  • Đối với bệnh nhân ghép tim, do độ nhạy cảm cao với adenosine, liều khởi đầu nên là 3 mg tiêm trong 2 giây; nếu cần, tiếp tục với 6 mg sau 1 đến 2 phút, và sau đó là 12 mg sau mỗi 1 đến 2 phút.
  • Để chẩn đoán phân biệt nhịp nhanh trên thất: Áp dụng chế độ liều tương tự như trên. Bắt đầu với 3 mg, tiếp theo là 6 mg, và sau đó là 12 mg, mỗi liều cách nhau 1 đến 2 phút nếu cần thiết.
  • Trong kỹ thuật xạ hình cơ tim: Thực hiện truyền tĩnh mạch liên tục với liều 140 microgam/kg/phút trong 6 phút, tổng liều là 0,84 mg/kg.
  • Dược chất phóng xạ (thali clorid TI 201) sẽ được tiêm vào giữa quá trình truyền adenosine, ví dụ, sau 3 phút kể từ khi bắt đầu truyền.
  • Công thức tính tốc độ truyền tĩnh mạch adenosine dựa trên trọng lượng cơ thể là: Tốc độ truyền dịch (ml/phút) = 0,140 (mg/kg/phút) × trọng lượng cơ thể (kg), với nồng độ adenosine là 3 mg/ml.

Trẻ em

Trẻ em < 50 kg:

  • Liều khởi đầu là 0,05 – 0,1 mg/kg tiêm tĩnh mạch; nếu không có chuyển biến sau 1 – 2 phút, liều có thể được tăng thêm 0,05 – 0,1 mg/kg cho đến khi nhịp nút xoang được thiết lập hoặc đạt liều đơn tối đa 0,3 mg/kg (tuy nhiên, liều đơn không được vượt quá 12 mg).

Trẻ em ≥ 50 kg:

  • Liều khởi đầu là 6 mg. Nếu không có kết quả trong 1 – 2 phút, có thể dùng liều 12 mg và lặp lại một lần nếu cần. Liều đơn tối đa là 12 mg.

Cấp cứu tim mạch hiện nay trong nhi khoa:

  • Liều khởi đầu để điều trị loạn nhịp nhanh trên thất là 0,1 mg/kg (liều đơn tối đa 6 mg) tiêm nhanh vào tĩnh mạch.
  • Nếu cần, một liều thứ hai 0,2 mg/kg (liều đơn tối đa 12 mg) có thể được áp dụng.

Tác dụng phụ của Adenosine

Tác dụng phụ

Thường gặp

  • Nóng bừng mặt, hạ huyết áp, block nhĩ thất, khó thở, cảm giác ngực bị ép, buồn nôn, nhức đầu, hơi choáng váng, hoa mắt chóng mặt, tê cóng, khó chịu ở cổ, họng, hàm, khó chịu ở chi trên, dị cảm.

Ít gặp

  • Suy giảm chức năng tâm thu (kéo dài), rung nhĩ, nhịp tim chậm, co thắt phế quản, thị lực giảm, cảm giác nóng rát, huyết áp tăng (thoáng qua), phản ứng tại vị trí tiêm, áp lực nội sọ tăng, cảm nhận vị kim loại, ngưng thở, co giật, xoắn đỉnh, rung tâm thất, nhịp thất chậm.

Hiếm gặp

  • Rung nhĩ, nhịp tim chậm ở mức độ nghiêm trọng, áp lực nội sọ cao, co thắt đường dẫn khí, phản ứng viêm tại vị trí tiêm.

Không xác định tần suất

  • Suy giảm chức năng hô hấp, ngưng thở/ngừng hô hấp, tình trạng mất ý thức, co giật.

Lưu ý khi dùng Adenosine

Lưu ý chung

  • Do khả năng làm chậm quá trình dẫn truyền tín hiệu qua nút nhĩ thất, adenosine có thể dẫn đến các mức độ block tim từ độ 1, độ 2 đến độ 3.
  • Do đó, cần hết sức thận trọng khi sử dụng thuốc cho những bệnh nhân đã có block nhĩ thất độ 1 hoặc block bó nhánh.
  • Việc sử dụng thuốc cần được dừng lại ngay lập tức nếu bệnh nhân phát triển tình trạng block tim ở mức độ cao hơn.
  • Các rối loạn nhịp tim mới thường được quan sát sau khi tiêm tĩnh mạch adenosine, trong giai đoạn tim đang hồi phục về nhịp xoang bình thường.
  • Bệnh nhân mắc nhịp nhanh kịch phát trên thất khi dùng adenosine có thể trải qua rung nhĩ hoặc cuồng động nhĩ theo các báo cáo đã ghi nhận.
  • Đối với những người bệnh có bệnh mạch vành nghiêm trọng, adenosine cũng có nguy cơ gây ra rung thất.
  • Bởi vì adenosine có thể tạm thời làm trầm trọng thêm các rối loạn dẫn truyền hoặc loạn nhịp trong cơn nhịp nhanh kịch phát trên thất, việc sử dụng thuốc này đòi hỏi sự giám sát điện tâm đồ liên tục của bác sĩ và phải sẵn có các thiết bị hồi sức tim mạch và hô hấp.
  • Việc truyền adenosine nhỏ giọt tĩnh mạch cần được thực hiện một cách cẩn trọng ở những cá nhân dễ bị hạ huyết áp, bao gồm người có rối loạn thần kinh thực vật, viêm màng ngoài tim, hẹp van tim, hẹp động mạch cảnh kèm thiếu máu não, bệnh nhân mới bị nhồi máu cơ tim hoặc suy tim.
  • Cần ngừng truyền thuốc ngay lập tức nếu bệnh nhân phát triển tình trạng hạ huyết áp kéo dài hoặc biểu hiện các triệu chứng của hạ huyết áp.
  • Bệnh nhân vừa trải qua phẫu thuật ghép tim có thể thể hiện sự nhạy cảm tăng lên đối với các tác động của adenosine lên tim.
  • Cần áp dụng thận trọng khi dùng adenosine cho người cao tuổi, bởi vì họ thường có chức năng tim suy giảm, rối loạn nút tự động, hoặc có nhiều bệnh lý đồng mắc và sử dụng nhiều loại thuốc, những yếu tố này có thể làm thay đổi huyết động học và dẫn đến nhịp tim chậm hoặc block nhĩ thất.
Xem thêm:  Tìm hiểu về Atovaquone: Công dụng và lưu ý khi điều trị viêm phổi

Lưu ý với phụ nữ có thai

  • Bởi vì adenosine là một chất tồn tại tự nhiên trong mọi tế bào của cơ thể, nên không có bằng chứng cho thấy thuốc gây hại cho thai nhi.
  • Tuy nhiên, chỉ nên sử dụng thuốc trong thời kỳ mang thai khi lợi ích điều trị được đánh giá là vượt trội so với rủi ro và thực sự cần thiết.

Lưu ý với phụ nữ cho con bú

  • Phụ nữ đang cho con bú có thể sử dụng adenosine vì đây là thuốc được dùng qua đường tiêm tĩnh mạch trong các trường hợp cấp cứu và có thời gian bán thải trong huyết thanh cực kỳ ngắn.

Lưu ý khi lái xe và vận hành máy móc

  • Thuốc không gây ảnh hưởng đến khả năng lái xe hoặc vận hành máy móc.

Quá liều và cách xử lý

Quên liều và cách xử trí

  • Nếu bệnh nhân quên uống một liều thuốc, cần dùng ngay khi nhớ ra.
  • Tuy nhiên, nếu thời điểm nhớ ra gần với liều tiếp theo, hãy bỏ qua liều đã quên và tiếp tục lịch trình dùng thuốc như bình thường.
  • Không được tự ý dùng gấp đôi liều quy định để bù cho liều đã bỏ lỡ.

Quá liều và độc tính

  • Việc sử dụng adenosine vượt quá liều khuyến cáo có thể dẫn đến tình trạng hạ huyết áp nghiêm trọng, làm chậm nhịp tim hoặc gây ngừng tim (không tâm thu).

Biện pháp xử lý khi quá liều

  • Do adenosine có thời gian bán thải trong máu rất ngắn, các tác dụng không mong muốn (nếu xuất hiện) thường tự hết nhanh chóng.
  • Trong một số trường hợp, việc sử dụng aminophylline tiêm tĩnh mạch (IV) hoặc theophylline có thể được xem xét.
  • Các nghiên cứu dược động học cho thấy methylxanthin đóng vai trò là chất đối kháng cạnh tranh với adenosine; nồng độ điều trị của theophylline có khả năng ngăn chặn các tác động ngoại sinh của adenosine.

Nguồn tham khảo

Drugs.com: https://www.drugs.com/mtm/adenosine.html

Drugs.com: https://www.drugs.com/mtm/adenosine.html

Dược thư Quốc gia Việt Nam 2015

Dược thư Quốc gia Việt Nam 2015

EMC: https://www.medicines.org.uk/emc/product/1436/smpc

EMC: https://www.medicines.org.uk/emc/product/1436/smpc

EMC: https://www.medicines.org.uk/emc/product/4765/smpc

EMC: https://www.medicines.org.uk/emc/product/4765/smpc

Bài viết này có hữu ích không?
0Không0