Cây Giao là vị thuốc cổ truyền có tính mát, vị cay, nổi bật với khả năng tiêu viêm, giải độc, sát trùng và khử phong hiệu quả. Trong dân gian, loại cây này thường được dùng để hỗ trợ trị táo bón, bệnh ngoài da và giúp thúc tiết sữa cho phụ nữ sau sinh. Tuy nhiên, do nhựa cây có chứa độc tính mạnh gây kích ứng da và mắt, việc sử dụng cần được thực hiện vô cùng cẩn trọng. Khi dùng đúng cách theo chỉ dẫn y khoa, Cây Giao sẽ trở thành phương thuốc quý giúp phục hồi sức khỏe và bảo vệ cơ thể một cách tự nhiên.
Tìm hiểu chung về Giao
Tên gọi, danh pháp
- Tên Việt: Giao.
- Tên gọi địa phương khác: Cây Kim Dao; Cây xương khô; San hô xanh; Xương cá; Cây nọc rắn; Cây càng tôm; Càng cua; Cây xương khô; Thập nhị; Cây quỳnh cành giao và nhiều tên khác.
- Danh pháp khoa học: Euphorbia tirucalli L., thuộc họ Thầu dầu (Euphorbiaceae).
Đặc điểm tự nhiên
- Giao là cây nhỡ, có thể phát triển đến chiều cao 4 – 8 m. Thân cây khá to, đường kính bằng cổ tay người, cành hình trụ dài, màu xanh lục, sắp xếp gần như thành các vòng quanh thân, tạo hình dáng tương tự cành san hô. Lá hẹp với bề rộng khoảng 2 mm, chiều dài đạt 12 – 16 mm; các lá mọc trên những cành nhỏ và thường bị rụng sớm trong quá trình phát triển.
- Cụm hoa có bao chung bao quanh, nhiều nhị hoa, chứa 5 tuyến hình bầu dục, nhị phát triển dày đặc; đầu nhụy có hình dáng tương tự đầu và chia thành 3 vòi chẻ đôi. Quả nang có ít lông phủ, chia thành 3 mảnh lồi. Hạt có hình trái xoan nhẵn bóng.
- Toàn bộ cây tiết ra nhựa mủ màu trắng đặc trưng.
Phân bố, thu hái, chế biến
- Giao có gốc rễ từ vùng nhiệt đới Châu Phi, và trong thời kỳ hiện đại được canh tác khắp các khu vực nhiệt đới trên thế giới. Tại khu vực Đông Nam Á, loài cây này được ghi nhận ở Indonesia, Philippin, Malaysia, Thái Lan, Lào và Campuchia. Trên lãnh thổ Việt Nam, giao được trồng rộng rãi vào mục đích làm cảnh tại nhiều địa phương. Trong một số vùng đồi các tỉnh miền trung, đặc biệt là ở những khu vực đất đá vôi thấp thuộc Ninh Bình và Thanh Hóa, vẫn còn quan sát thấy cây mọc hoang dã, có khả năng là do các hoạt động trồng trọt ở thời kỳ trước.
- Giao có đặc tính yêu thích ánh sáng mạnh, chịu được nắng nóng gay gắt và điều kiện hạn hán kéo dài. Cây thích nghi tốt với nhiều loại đất khác nhau, kể cả những đất cát khô ở ven biển hoặc các vùng đất bán hoang mạc cằn cỗi như Ninh Thuận. Giao ra hoa và kết quả hàng năm, mặc dù hạt không đóng vai trò then chốt trong quá trình nhân giống. Dương tính của cây thể hiện ở khả năng tái sinh cực mạnh, bởi từ một đoạn thân hoặc cành nếu được đặt tiếp xúc với đất đều nhanh chóng sinh rễ và phát triển thành cây giao hoàn chỉnh.
- Giao được thu hái quanh năm, có thể sử dụng ở trạng thái tươi hoặc sau khi phơi nắng, sấy khô.
Bộ phận sử dụng
- Toàn cây – Herba Euphorbiae Tirucalli.
Thành phần hóa học
- Giao chứa các hợp chất euphorbin A và F, cùng với cyclotirucanenol (24β – methyl – 9 β – 19 – cycloanost – 20 – en – 3β – ol) — những thành phần triterpen quan trọng góp phần vào hoạt tính dược lý của dược liệu.
- Vỏ thân dược liệu tích tụ cycloeucalenol và γ – taraxasteryl acetat, những hoạt chất có vai trò trong các tác dụng sinh lý của cây.
- Cả vỏ thân ở trạng thái khô và tươi đều có mặt euphorginol (taraxer – 14 – 6α – ol), glut – 5 – en – 3β – ol và cycloart – 23 – en – 3β – 25 – diol, những dẫn chất triterpen với tiềm năng dược lý đáng kể.
- Nhựa mủ tiết từ cây được ghi nhận chứa các diterpen như tirucalicin 3, 7, 12 – tri – O – acetyl – 8 – isovaleryl – ingol, bên cạnh đó là các dẫn chất diterpen ester phát sinh từ các alcol ingenol, phorbol và resiniferonol, cùng với chất triterpen cycloeuphordenol (4α, 14α, 24β – trimethyl – 9β: 19 – cyclocholest – 20 – en – 3β – ol) có hoạt tính sinh học nổi bật.
Công dụng của Giao
Theo y học cổ truyền
- Toàn bộ cây giao sở hữu tính chất mát, vị cay, hơi chua và mang độc tính nhất định. Phổ tác dụng của dược liệu bao gồm tiêu viêm, giải độc, thúc tiết sữa, sát trùng và khử phong. Nhựa mủ của cây có độc tính cao — khi tiếp xúc với mắt có nguy cơ gây mù; nhựa cũng gây phồng rộp, tạo nóng đỏ, tẩy xổ và gây kích ứng. Khi tiếp xúc ánh sáng mặt trời, nhựa mủ sẽ khô đặc lại; nếu ngâm trong nước, nó chuyển hóa thành một loại nhựa tương tự cao su.
- Ở nhiều quốc gia Đông Nam Á, bệnh nhân gãy xương được điều trị bằng cách dùng bôi ngoài từ cành hoặc vỏ cây giao.
- Tại Malaysia, các nhân dân y học áp dụng bôi ngoài từ cành giã nát hoặc rễ xát để chữa sưng tấy, loét mũi và trĩ. Rễ nạo nhỏ được trộn dầu dừa, dùng đường uống để hỗ trợ đau dạ dày. Dịch chiết từ toàn cây thể hiện tính chất kháng sinh.
- Ở Indonesia, nhựa mủ cây được phết lên vùng chi bị gãy và khi khô cứng lại sẽ tạo chất nẹp hỗ trợ.
- Ở Ấn Độ, nhựa mủ được bôi tại chỗ để trị mụn cóc, thấp khớp, đau dây thần kinh, đau răng. Ngoài ra, cây giao còn được sử dụng để điều trị đau tai, ho, hen; liều nhỏ cho tác dụng tẩy, liều lớn cho tác dụng kích thích và gây nôn. Nước sắc từ rễ và cành non được dùng để hỗ trợ đau dạ dày và đau bụng. Tro cây giao được dùng để làm vỡ áp xe.
- Ở Madagascar, nhựa mủ cây giao được sử dụng để gây nôn và làm thuốc bả cá, nhưng phải hết sức cẩn trọng vì độc tính khi liều dùng vượt quá.
- Ở Tây Phi, nhựa mủ được bôi để chữa mụn cóc, thấp khớp và đau dây thần kinh.
Theo y học hiện đại
- Tác dụng ức chế vi khuẩn: Cao ethanol từ cành cây giao đã được ghi nhận có khả năng ức chế sự phát triển của vi khuẩn Staphylococcus aureus và Bacillus subtilis.
- Tác dụng tác động thần kinh trung ương: Các thí nghiệm in vivo sử dụng cao ethanol từ lá, thân non và nhựa mủ cây giao cho thấy dược liệu này có khả năng chống co giật, ức chế chức năng thần kinh trung ương và làm giảm cảm giác đau.
- Cao cây giao thể hiện khả năng tăng cường hoạt hóa các trình tự gen tiềm tàng của virus Epstein – Barr (EBV) trong các nguyên bào lympho người bị nhiễm EBV cũng như trên sự biến đổi tế bào lympho người do EBV gây ra.
- Nước và đất ở xung quanh cây có thể gây nguy hiểm cho con người vì cũng sở hữu khả năng tăng cường hoạt hóa trên. Những diterpen ester có nguồn gốc từ resiniferonol, alcol ingenol và phorbol có mặt trong nhựa mủ cây giao là những chất kích thích và gây ung thư.
Liều dùng và cách dùng Giao
- Cành và rễ cây giao được chế biến dưới dạng nước sắc để dùng đường uống; nhựa thường được áp dụng bôi ngoài trên da.
Bài thuốc kinh nghiệm
Chữa đau răng
- Lấy khoảng 50 g cành giao, rửa kỹ lưỡng, ngâm vào 100 ml cồn 90°. Mỗi lần sử dụng lấy 1 muỗng cà phê (tương đương 15 ml) hòa vào nước, ngậm trong khoang miệng một lát rồi phát ra; thực hiện ngậm 3 – 4 lần mỗi ngày.
Chữa viêm xoang
- Đun cành giao cùng với nước, sau đó dùng khăn trùm lên đầu và xông mặt với hơi nước.
Chữa nốt mụn cóc
- Chuẩn bị: Lấy nhựa mủ từ cây giao (sử dụng nhựa mới tươi).
- Thực hiện: Dùng tăm bông thấm mủ cây giao, thoa lên các vùng da có nốt mụn cóc, lặp lại 2 – 3 lần mỗi ngày.
- Chú ý: Không áp dụng trên diện tích da rộng; sau khoảng 1 tuần sẽ quan sát thấy nốt mụn cóc rơi rụng.
Chữa bong gân và phù nề chi thể
- Chuẩn bị một nắm cành giao tươi, rửa sạch và để cho nước ráo hết, sau đó bọc trong bao nilon rồi giã nát thành bột. Dùng hỗn hợp này đắp lên vùng cơ thể bị sưng đau.
Lưu ý khi dùng Giao
- Nhựa mủ từ cây giao chứa độc tính rất cao; nếu dính vào vùng mắt có nguy cơ gây mù lòa, do đó cần tuân thủ các biện pháp phòng ngừa cẩn thận trong quá trình sử dụng.
- Vì cây giao mang tính chất độc hại, người sử dụng phải tránh dùng liều lượng cao, ngay cả khi áp dụng dưới dạng bôi ngoài.
- Những cá nhân có da dễ kích ứng khi tiếp xúc với nhựa mủ cây giao có thể gặp phải các phản ứng da nặng nề như phồng rộp, ban đỏ, nổi mụn nước.
- Các bài thuốc chế từ cây giao còn có khả năng gây cảm giác rát nóng vùng cổ họng và lưỡi, tổn thương niêm mạc miệng, loét dạ dày, rối loạn tiêu hóa dưới dạng tiêu chảy, buồn nôn, nôn mửa cũng như đau vùng bụng.
Nguồn tham khảo
1) Tra cứu dược liệu: https://tracuuduoclieu.vn/xuong-kho.html
2) Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – tập 2.
3) Sở du lịch thành phố Hồ Chí Minh: http://sodulich.tphcm.gov.vn/web/wikiduoclieu/home/-/blogs/bai-thuoc-tu-cay-giao.

