Lá neem (Azadirachta indica), còn gọi là lá sầu đâu, là vị thuốc cổ truyền nổi tiếng với tác dụng kháng khuẩn, kháng viêm và hỗ trợ điều trị một số bệnh ngoài da, sốt rét, đái tháo đường. Nhờ chứa nhiều hợp chất sinh học như azadirachtin, nimbin, nimbidin, dược liệu được sử dụng rộng rãi trong y học dân gian để diệt côn trùng, tẩy giun, làm lành vết loét và tăng cường miễn dịch. Tuy nhiên, cần dùng đúng liều lượng và tham khảo ý kiến chuyên gia để tránh tác dụng không mong muốn.
Tìm hiểu chung về Azadirachta indica leaf
Tên gọi, danh pháp
- Tên Việt Nam: Lá neem.
- Tên gọi phổ biến khác: Sầu đâu, xoan sầu đâu, xoan trắng, xoan ăn gỏi, cây nim, xuyên luyện, đốc hiên, khổ luyện (Trung Quốc), sđâu (Campuchia), Neem tree, margosa tree, indian lilac (Anh), latier blanc (Pháp).
- Danh pháp khoa học: Azadirachta indica A. Juss., Melia azadirachta L. Thuộc họ Xoan (Meliaceae).
Đặc điểm tự nhiên
- Cây neem là loài thân gỗ cao vượt quá 40 – 50 feet, thân cây mọc thẳng đứng, các cành dài xòe ngang tạo thành tán lá tròn rộng đặc trưng. Vỏ cây neem có đặc điểm thô ráp, màu nâu sẫm, bề mặt được chia cắt bởi các vết nứt dọc được ngăn cách bởi các gờ phẳng nổi.
- Lá neem có cấu trúc kép dạng lông chim lẻ, không có lông phủ, sắp xếp so le trên cành. Mỗi tờ lá kép bao gồm 5 – 15 lá chét riêng lẻ, hình mác đặc trưng, kích thước dài khoảng 6 – 8 cm và rộng từ 2 – 3 cm, phiến lá lệch một bên, bề mặt nhẵn bóng, đỉnh nhọn, mép có khía răng (ở lá non mép còn giữ nguyên không khía).
- Hoa neem tập trung thành cụm mọc chủ yếu ở nách lá, chiều dài cụm ngắn hơn so với lá, bao gồm nhiều bông hoa xếp thành những xim nhỏ, cuống hoa có lông mảnh, lá bắc ngắn và rụng sớm. Cánh hoa có hình trứng, màu trắng tinh khôi với mùi thơm ngọt ngào đặc trưng. Quả là hạch, màu vàng, hình elip và bề mặt nhẵn, kích thước dài khoảng 12 – 20 mm. Quả ở giai đoạn non có màu xanh, khi trưởng thành chuyển sang màu vàng, tỏa ra mùi thơm giống như mùi tỏi.
- Thời kỳ nở hoa kéo dài từ tháng 3 đến tháng 4.
- Quả chín trong khoảng thời gian từ tháng 4 đến tháng 8, thay đổi tùy theo điều kiện địa phương.
Phân bố, thu hái, chế biến
Phân bố
- Cây neem có xuất xứ từ vùng phía đông Ấn Độ và Miến Điện, sau đó lan rộng và phát triển ở hầu hết các khu vực Đông Nam Á cũng như Tây Phi, gần đây hơn còn xuất hiện ở vùng Caribe, Nam và Trung Mỹ. Ở Ấn Độ, loài này mọc hoang dã ở dãy đồi Siwalik, các vùng rừng khô ở Andhra Pradesh, Tamil Nadu và Karnataka ở độ cao xấp xỉ 700 m. Cây neem được nhân giống và thường xuyên được nhập tịch ở các vùng khô hạn ở khu vực nhiệt đới và cận nhiệt đới Ấn Độ, Pakistan, Sri Lanka, Thái Lan và Indonesia. Ngoài ra, loài cây này cũng được canh tác và thường được nhập tịch ở Bán đảo Malaysia, Singapore, Philippines, Úc, Ả Rập Saudi, các nước Châu Phi nhiệt đới, Caribe, Trung và Nam Mỹ.
- Năm 1981, một số hạt giống cây neem được chuyển về và trồng thí điểm tại khuôn viên Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Ninh Thuận. Sau nhiều năm nuôi dưỡng, cây đã sinh sản hạt giống phục vụ cho việc nhân trồng mở rộng, và đến năm 1998, hàng loạt cây con được đưa vào trồng chính thức trên một diện tích cát khô cằn thuộc xã Phước Sinh, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận.
- Cây neem là loài cây có nhu cầu ánh sáng cao, sinh trưởng mạnh mẽ trong mùa mưa ẩm, mặc dù lượng mưa hàng năm ở vùng Ninh Phước được xếp hạng thấp nhất toàn quốc Việt Nam. Loài cây này thể hiện khả năng thích nghi xuất sắc với điều kiện khí hậu nắng nóng, gió cát thường xuyên của vùng bán hoang mạc.
Thu hái và chế biến
- Khi khai thác vỏ thân làm nguyên liệu thuốc, cần lựa chọn những cây đã đạt tuổi khai thác gỗ (6 – 7 năm tuổi), tiến hành chặt toàn bộ cây rồi cạo bỏ lớp vỏ đen bên ngoài, sau đó bóc lấy lớp vỏ lụa trắng từ thân chính và các cành to. Phần rễ cũng được xử lý tương tự để lấy vỏ.
- Vỏ thu được được đem phơi hoặc sấy khô, trong quá trình sử dụng cần sao cho có màu hơi vàng và hết hoàn toàn mùi hăng chua.
Bộ phận sử dụng
- Toàn bộ cơ quan của cây neem đều có giá trị ứng dụng làm dược liệu qua nhiều thế kỷ. Loài cây này đã được vận dụng trong hệ thống y học Ayurvedic suốt hơn 4000 năm nhờ những tính chất chữa trị bệnh tật của nó. Các tác phẩm y học viết bằng tiếng Phạn từ thời cổ đại sớm nhất đã ghi chép những lợi ích của trái, hạt, dầu, lá, rễ và vỏ cây neem. Từng loại bộ phận đã được ứng dụng trong y học Ayurvedic và Unani của Ấn Độ, và hiện nay tiếp tục được sử dụng rộng rãi trong ngành công nghiệp dược phẩm và mỹ phẩm.
Thành phần hóa học
- Phân tích hóa học các phần mô của cây neem (Azadirachta indica) đã xác định được một quần thể hoạt chất phong phú, bao gồm: Azadirachtin, meliacin, gedunin, nimbidin, nimbolides, salanin, nimbin, valassin và meliacin — những hợp chất này chủ yếu đóng góp vào vị đắng đặc trưng của dầu neem, trong khi hạt còn chứa axit tignic, yếu tố chính tạo nên mùi đặc thù của tinh dầu này.
- Hạt neem là nguồn dầu dồi dào, với hàm lượng đạt 30 – 50%, sản phẩm này được ứng dụng rộng rãi trong ngành sản xuất xà phòng, chế phẩm diệt côn trùng và các sản phẩm dược mỹ phẩm. Dầu từ hạt neem còn chứa một nhóm hoạt chất quan trọng được phân loại chung là triterpene hoặc limonoid. Bốn hợp chất limonoid có tiềm năng dược lý cao nhất được xác định là: Azadirachtin, salannin, meliantriol và nimbin. Các hợp chất limonoid này thể hiện hoạt tính diệt côn trùng đáng kể theo các nghiên cứu dược lý hiện đại.
Công dụng của Azadirachta indica leaf
Theo y học cổ truyền
- Trong y học cổ truyền phương Đông, vỏ cây neem được ghi nhận có vị đắng, tính lạnh và chứa độc tố. Dược liệu này sở hữu khả năng tẩy trừ các loài giun寄生, đặc biệt là giun đũa, giun kim và giun chỉ.
- Tại Việt Nam, cây neem chỉ được áp dụng trong những tình huống đặc thù theo kinh nghiệm dân gian. Lá neem được phơi khô trong điều kiện tối và bảo quản bên trong các tài liệu có tác dụng bảo vệ chống lại các côn trùng nhậy. Ngoài ra, lá neem còn được nhân dân sử dụng để điều trị đái tháo đường, sốt rét, vết cắn rắn, áp-xe, loét và các bệnh lý ngoài da như eczema.
Theo y học hiện đại
Diệt côn trùng
- Chiết xuất từ môi trường nước của bốn loài thực vật, trong đó có neem, đã được đánh giá khả năng tiêu diệt ấu trùng côn trùng. Trong các phòng thí nghiệm, ấu trùng được tiếp xúc với các nồng độ khác nhau (1, 2, 3, 4 và 5 ppm) của chiết xuất neem cùng với ba loài thực vật khác tại phòng thí nghiệm Động vật học của một cơ sở giáo dục đại học ở Ấn Độ. Kết quả cho thấy chiết xuất từ neem gây ra tỷ lệ chết của ấu trùng dao động từ 70 – 99%. Các nhà khoa học đánh giá rằng chiết xuất neem thể hiện hiệu lực đáng kể trong việc kiểm soát ấu trùng Culex.
Kháng khuẩn
- Các dạng chiết xuất khác nhau từ lá neem Azadirachta indica (Meliaceae) — cụ thể là chiết xuất ete dầu mỏ, methanol và nước — cùng với chiết xuất từ củ hành tây Allium cepa (Liliaceae) và chiết xuất methanol từ gel nha đam (Liliaceae) đã được kiểm định hoạt tính ức chế vi khuẩn bằng phương pháp khuếch tán trên thạch đĩa.
- Các mẫu chiết xuất này được đánh giá hiệu quả chống lại sáu chủng vi khuẩn gồm hai chủng Gram dương (Bacillus subtilis và Staphylococcus aureus) và bốn chủng Gram âm (Escherichia coli, Proteus vulgaris, Pseudomonas aeruginosa và Salmonella typhi). Mức độ nhạy cảm của các chủng vi khuẩn đối với chiết xuất được so sánh với nhau và với các chế phẩm kháng sinh tham chiếu. Chiết xuất methanol của lá neem thể hiện hoạt tính ức chế rõ ràng đặc biệt với Bacillus subtilis.
Hạ đường huyết
- Tác dụng làm giảm glucose trong máu của cây neem đã được kiểm chứng trên mô hình động vật thí nghiệm mắc bệnh đái tháo đường. Sau 24 giờ điều trị, liều neem 250mg/kg (liều duy nhất được khảo sát) làm giảm nồng độ glucose (18%), cholesterol (15%), triglycerid (32%), urê (13%), creatinin (23%) và tổng lipid (15%). Khi tiến hành nghiên cứu với nhiều liều trong khoảng thời gian 15 ngày, các chỉ số creatinin, urê, lipid, triglycerid và glucose cũng giảm đáng kể.
- Trong thí nghiệm dung nạp glucose ở động vật bệnh đái tháo đường được cho chiết xuất neem 250mg/kg, nồng độ glucose quan sát được thấp hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm đối chứng. Cây neem gây ra sự giảm đáng kể nồng độ glucose vào ngày thứ 15 ở các động vật mắc bệnh đái tháo đường.
- Chiết xuất từ hoa và lá non của neem thể hiện khả năng chống oxy hóa mạnh mẽ. Chỉ số stress oxy hóa được đo bằng malondialdehyd (MDA) giảm lần lượt 46,0% và 50,6% đối với chiết xuất từ hoa và lá, dựa trên đó các nhà nghiên cứu khuyến cáo rằng lá neem có tiềm năng được sử dụng như một chất bổ tăng cường sức khỏe tổng thể.
Rối loạn về da
- Neem sở hữu khả năng điều trị nhiều bệnh lý ngoài da, bao gồm ghẻ và chấy rận. Một hỗn hợp bột nhão chứa neem kết hợp với Curcuma longa (nghệ) đã được ứng dụng để trị ghẻ ở 814 bệnh nhân, trong đó 97% số ca bệnh đạt khỏi bệnh hoàn toàn trong vòng 3 đến 15 ngày kể từ lúc bắt đầu sử dụng mà không ghi nhận bất kỳ phản ứng bất lợi nào.
Tăng cường miễn dịch ở người bệnh HIV/AIDS
- Ở bệnh nhân HIV/AIDS, liệu pháp uống chiết xuất axeton của lá neem kéo dài 12 tuần đã thể hiện tác động có ý nghĩa lâm sàng lên tế bào CD4 (loại tế bào bị HIV làm suy giảm) mà không gây ra bất kỳ tác dụng phụ nào ở bệnh nhân. Trong số 60 bệnh nhân hoàn thành toàn bộ liệu pháp, 50 bệnh nhân tuân thủ hoàn toàn các xét nghiệm huyết thanh.
- Mức độ tế bào CD4 trung bình tăng 159% ở 50 bệnh nhân, đây là mức tăng rất đáng kể; số lượng các bệnh lý kỹ thuật liên quan đến HIV/AIDS giảm từ 120 ca ban đầu xuống còn 5 ca; đồng thời cũng ghi nhận sự gia tăng có ý nghĩa ở trọng lượng cơ thể (12%), nồng độ hemoglobin (24%) và số lượng tế bào lympho (24%).
Tác dụng chống khối u
- Các công trình nghiên cứu về neem đã chứng minh khả năng ngăn chặn quá trình ung thư hóa bằng cách ức chế tác dụng gây ung thư do các chất ung thư sinh diethyl Nitrosamine (DEN)/2 Acetylaminofluorene (AAF) trên mô hình chuột Sprague-Dawley.
Liều dùng và cách dùng Azadirachta indica leaf
- Liều lượng sử dụng nội khoa là 4 – 8g dạng nước sắc uống hàng ngày.
- Ứng dụng ngoài da: lá neem được dùng để điều trị eczema thông qua các phương pháp như giã nghiền đắp trực tiếp, rửa sát vùng tổn thương, hoặc tắm với nước sắc để chữa ghẻ lở và các bệnh ngoài da khác. Ngoài ra, lá neem khô có thể được đặt trong sách vở để phòng chống ba đuôi, hoặc để trong tủ quần áo nhằm ngăn ngừa sự xâm nhập của các loài côn trùng gây hại.
Bài thuốc kinh nghiệm
Chữa đái tháo đường
- Lá neem non được nghiền nát và kết hợp đều tỷ lệ với hạt tiêu cùng gừng tươi, sau đó trộn đồng nhất và tạo thành các viên nhỏ có kích thước tương đương hạt đậu, dùng 2 lần mỗi ngày với mỗi lần một viên.
Trị sốt rét
- Lá neem sau khi phơi khô được tán thành bột mịn, liều dùng 5g mỗi lần, uống 2 lần trong ngày kèm theo mật ong tự nhiên, duy trì trong vòng 3 ngày liên tiếp.
- Lá neem tươi được nhai nhuyễn rồi đắp lên vùng bị rắn cắn để sơ cứu.
Trị viêm họng, làm long đờm
- Theo kinh nghiệm dân gian ở Nepal, người ta sắc hỗn hợp gồm 5g lá neem cộng 1g thân rễ thuỷ xương bồ và một lượng muối vừa đủ trong nước, sau đó uống khi còn nóng 2 lần mỗi ngày trong khoảng 2 – 4 ngày.
Trị tiêu chảy và lỵ
- Dùng 5 – 7g lá neem sắc với 1 lít nước cho đến khi còn 200ml, uống khi còn nóng kèm mật ong, chia thành 2 lần trong ngày, duy trì điều trị trong 2 – 3 ngày.
Lưu ý khi dùng Azadirachta indica leaf
- Khi sử dụng liều lượng vượt quá khuyến cáo, lá neem có thể gây ra các phản ứng không mong muốn như chóng mặt, buồn nôn, đau vùng bụng, tình trạng sung huyết mặt, và tê bại ở chi dưới.
- Cần được tư vấn hướng dẫn từ chuyên gia y tế hoặc bác sĩ trước khi áp dụng lá neem vào điều trị các bệnh lý để đảm bảo an toàn và hiệu quả.
Nguồn tham khảo
Hashmat I, Azad H, Ahmed A. Neem (Azadirachta indica A. Juss)-A nature’s drugstore: an overview. Int Res J Biol Sci. 2012;1(6):76-9.
Uchegbu M, Okoli I, Esonu B, et al. The grovving importance of neem (Azadirachta indica A. Juss) in agriculture, industry, medicine and Eenvironment: A review. Research Journal of Medicinal Plant. 2011;5(3):230-245.
Đỗ Huy Bích; Đặng Quang Chung. Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam tập II. Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật. Hà Nội; 2006.
Đỗ Tất Lợi. Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam. Nhà xuất bản Y học. Hà Nội; 2006.
Phạm Diệp; Lê Văn Thuần. Cây thuốc bài thuốc và biệt dược. Nhà xuất bản Y học. Thành phố Hồ Chí Minh; 2000.

