10
Chloral hydrate là một thuốc an thần gây ngủ được sử dụng để giảm lo âu và tạo trạng thái an thần trước các thủ thuật phẫu thuật. Với khả năng ức chế hệ thần kinh trung ương, chloral hydrate có thể gây ra nhiều mức độ tác dụng khác nhau, từ trấn tĩnh đến gây ngủ và hôn mê. Tuy nhiên, việc sử dụng chloral hydrate cần được thực hiện một cách cẩn thận do khả năng gây ra các tác dụng phụ như buồn nôn, nôn mửa, và phản ứng dị ứng.
Tổng quan về Chloral hydrate
Tên thuốc gốc (Hoạt chất)
- Chloral hydrate.
Loại thuốc
- Thuốc an thần gây ngủ.
Dạng thuốc và hàm lượng
- Viên nang 250 mg, 500 mg; sirô 50 mg/ml, 100 mg/ml;
- Thuốc đạn 325 mg, 500 mg, 650 mg.
Chỉ định Chloral hydrate
- Chloral hydrate được sử dụng trước các thủ thuật phẫu thuật nhằm mục đích giảm lo âu, tạo trạng thái an thần và/hoặc gây ngủ.
- Trong quá khứ, thuốc từng được chỉ định để điều trị chứng mất ngủ.
- Tuy nhiên, hiệu quả gây ngủ của thuốc chỉ duy trì khi dùng trong thời gian ngắn.
- Nếu sử dụng liên tục quá 2 tuần, tác dụng của thuốc sẽ giảm hoặc mất hoàn toàn.
- Ngày nay, nhiều loại thuốc khác có hiệu quả vượt trội hơn đã ra đời và thay thế.
Dược lực học
- Chloral hydrate là một thuốc an thần-gây ngủ, thuộc nhóm các hoạt chất ức chế hệ thần kinh trung ương không chọn lọc.
- Khả năng ức chế thần kinh trung ương của thuốc tương tự như paraldehyd và các barbiturat.
- Cơ chế hoạt động chính xác của thuốc vẫn chưa được làm rõ hoàn toàn.
- Hiệu quả ức chế hệ thần kinh trung ương của chloral hydrate được cho là nhờ chất chuyển hóa có hoạt tính của nó là tricloroethanol.
- Tùy theo liều lượng, thuốc có thể gây ra nhiều mức độ tác dụng khác nhau, từ trấn tĩnh hoặc buồn ngủ (an thần), đến gây ngủ sinh lý, vô thức, hôn mê, gây mê phẫu thuật, suy hô hấp và rối loạn nhịp tim có thể dẫn đến tử vong.
- Ngoài công dụng gây ngủ, trong quá khứ, chloral hydrate cũng được dùng để an thần cho trẻ em trước một số thủ thuật y tế.
- Thuốc có khả năng gây kích ứng mạnh da và niêm mạc, có vị khó chịu, thường dẫn đến buồn nôn và đôi khi nôn mửa nếu không được pha loãng đúng cách hoặc dùng khi đói.
- Thuốc có tác dụng giảm đau và chống co giật yếu.
- Hiện tại, thuốc này ít được sử dụng trong thực hành lâm sàng.
Dược động học
Hấp thu
- Chloral hydrate được hấp thu nhanh chóng qua đường tiêu hóa khi dùng đường uống hoặc đặt trực tràng.
- Mức nồng độ chloral hydrate hoặc chất chuyển hóa chính tricloroethanol trong huyết tương để đạt hiệu quả an thần hay gây ngủ vẫn chưa được xác định rõ.
- Sau khi dùng một liều duy nhất 15 mg/kg qua đường uống, nồng độ tricloroethanol đạt đỉnh trong huyết tương nằm trong khoảng 7 đến 10 microgam/ml.
- Dùng liều chloral hydrate từ 500 mg đến 1 g sẽ tạo ra giấc ngủ trong khoảng 30 phút đến 1 giờ và tác dụng này duy trì trong 4 đến 8 giờ.
Phân bố
- Cả chloral hydrate và/hoặc chất chuyển hóa có hoạt tính của nó là tricloroethanol đều được phát hiện trong dịch não tủy, máu cuống rốn, máu thai nhi và nước ối.
- Tuy nhiên, chỉ một lượng nhỏ chất chuyển hóa có hoạt tính này xâm nhập vào sữa mẹ.
Chuyển hóa
- Chloral hydrate được chuyển hóa trong gan và hồng cầu, chủ yếu thông qua enzym alcohol dehydrogenase ở gan cùng với một số enzym khác, tạo thành tricloroethanol – một chất chuyển hóa có hoạt tính.
- Tricloroethanol có thời gian bán thải trong huyết tương ước tính khoảng 8 đến 11 giờ.
- Một phần nhỏ chloral hydrate và một lượng lớn hơn tricloroethanol trải qua quá trình oxy hóa ở gan và thận, biến đổi thành acid tricloroacetic, một chất chuyển hóa không có hoạt tính.
- Ngoài ra, tricloroethanol còn có khả năng liên hợp với acid glucuronic để hình thành tricloroethanol glucuronid (còn gọi là acid urocloralic), đây cũng là một chất chuyển hóa không có hoạt tính.
Thải trừ
- Các chất chuyển hóa nêu trên được bài tiết từ từ qua nước tiểu.
- Một phần tricloroethanol glucuronid cũng có thể được đào thải qua mật và sau đó qua phân.
- Bản thân chloral hydrate không được bài tiết qua nước tiểu dưới dạng chưa chuyển hóa.
Tương tác thuốc Chloral hydrate
Tương tác với các thuốc khác
- Khi chloral hydrate được dùng chung với các thuốc chống đông máu, đặc biệt là warfarin, có thể làm tăng cường hiệu quả giảm prothrombin huyết của warfarin. Nguyên nhân là do acid tricloroacetic, một chất chuyển hóa của chloral hydrate, đã đẩy warfarin ra khỏi các vị trí gắn kết với albumin huyết tương, dẫn đến sự gia tăng tạm thời nồng độ warfarin tự do trong máu.
- Do đó, trong trường hợp cần thiết phải phối hợp, khuyến nghị giảm liều thuốc chống đông máu hoặc cân nhắc thay thế chloral hydrate bằng một thuốc gây ngủ khác, ví dụ như một benzodiazepin, vốn không có tác động đến quá trình chống đông máu.
- Một số bệnh nhân bị nhồi máu cơ tim và suy tim sung huyết đã ghi nhận các phản ứng như vã mồ hôi, nóng bừng mặt và thay đổi huyết áp, bao gồm cả tăng huyết áp, khi tiêm tĩnh mạch furosemid trong vòng 24 giờ sau khi uống chloral hydrate.
- Vì vậy, nên sử dụng một thuốc gây ngủ khác (chẳng hạn như một benzodiazepin) khi có chỉ định tiêm furosemid đường tĩnh mạch.
- Cả chloral hydrate và rượu đều có khả năng ức chế chuyển hóa của nhau, từ đó kéo dài tác dụng ức chế hệ thần kinh trung ương, đồng thời có thể gây giãn mạch và hạ huyết áp.
Tương kỵ thuốc
- Chloral hydrate không tương thích với các chất kiềm, kim loại kiềm thổ, carbonat kiềm, barbiturat tan được, borax, tanin, iodid, các tác nhân oxy hóa, permanganat, và rượu (có thể hình thành kết tủa chloral alcohol).
- Khi được nghiền nhỏ cùng với một số hợp chất hữu cơ như camphor, menthol, phenazon, phenol, thymol và các muối quinin, thuốc sẽ tạo thành một hỗn dịch lỏng.
Chống chỉ định thuốc Chloral hydrate
- Bệnh nhân bị suy giảm chức năng gan và thận ở mức độ nặng.
- Những người mắc bệnh tim mạch, nghiện rượu hoặc nghiện ma túy.
- Dạng uống của chloral hydrate không được dùng cho bệnh nhân viêm thực quản, viêm hoặc loét dạ dày, tá tràng.
- Dạng thuốc đặt trực tràng không nên dùng cho người bị viêm đại tràng do nguy cơ làm tình trạng bệnh trở nên trầm trọng hơn.
- Bệnh nhân có tiền sử đặc ứng hoặc quá mẫn cảm với chloral hydrate.
Liều lượng & cách dùng Chloral hydrate
Người lớn
- Thuốc có thể được dùng qua đường uống hoặc đặt trực tràng.
- Cách dùng đường uống:
- Nuốt nguyên viên thuốc với một cốc nước đầy (240 ml).
- Siro cần được hòa tan vào 120 ml nước để giảm thiểu kích ứng dạ dày.
- Không dùng chung với đồ uống có cồn.
- Chỉ sử dụng trong thời gian ngắn; nếu điều trị kéo dài, cần giảm liều từ từ khi ngừng để tránh các triệu chứng cai thuốc.
- Gây ngủ: Uống 500 – 1000 mg, dùng trước khi đi ngủ 15 đến 30 phút. Liều tối đa hàng ngày không được vượt quá 2 g.
- Đặt hậu môn để gây ngủ: Đặt 0,65 – 1,3 g, 30 phút trước khi đi ngủ.
- An thần ban ngày: Uống 250 mg, 3 lần mỗi ngày sau bữa ăn.
- Đặt hậu môn để an thần ban ngày: Đặt 325 – 650 mg, 3 lần mỗi ngày (liều tối đa hàng ngày là 1950 mg).
- An thần trước phẫu thuật: Uống 500 – 1000 mg, dùng 30 phút trước khi phẫu thuật.
- Xử trí các triệu chứng cai rượu: Liều uống thông thường là 500 mg – 1 g. Có thể lặp lại mỗi 6 giờ một lần nếu cần, với liều tối đa 2 g/ngày.
Trẻ em
- Gây ngủ: Uống 50 mg/kg (liều đơn tối đa 1 g).
- Đặt hậu môn để gây ngủ: Đặt 325 mg/18 kg, 1 lần mỗi ngày trước khi đi ngủ.
- An thần: Uống 8 mg/kg, 3 lần mỗi ngày (liều tối đa 500 mg, 3 lần mỗi ngày).
- Đặt hậu môn để an thần: Đặt 325 mg/36 kg, không vượt quá 1 liều trong 24 giờ.
- Trước khi tiến hành các thủ thuật về răng hoặc nội khoa:
- Uống liều thông thường 20 – 25 mg/kg thể trọng trước khi làm thủ thuật (không vượt quá 1 liều 1 g ở nhũ nhi hoặc 1 liều 2 g ở trẻ em).
- Đặt hậu môn 25 – 100 mg/kg/liều trước khi làm thủ thuật (không vượt quá 1 liều 1 g ở nhũ nhi hoặc 1 liều 2 g ở trẻ em).
Tác dụng phụ của Chloral hydrate
Thường gặp
- Buồn nôn, nôn mửa, đau dạ dày.
Ít gặp
- Phản ứng dị ứng (như phát ban da), cảm giác lóng ngóng, dáng đi loạng choạng, tiêu chảy, chóng mặt, mất điều hòa vận động, ngủ lơ mơ.
Hiếm gặp
- Tình trạng lú lẫn, ảo giác, kích động bất thường.
Lưu ý khi dùng Chloral hydrate
Lưu ý chung
- Bệnh nhân mắc bệnh tim mạch nghiêm trọng không nên sử dụng chloral hydrate ở liều cao.
- Việc sử dụng thuốc liên tục ở liều điều trị thông thường chưa ghi nhận gây ảnh hưởng bất lợi đến tim.
- Cần hết sức thận trọng khi chỉ định chloral hydrate cho những người có tình trạng suy nhược tinh thần nghiêm trọng, có ý định tự tử, hoặc có tiền sử lạm dụng thuốc hoặc rượu.
- Thuốc này được sử dụng để gây an thần cho trẻ em trong một số thủ thuật nha khoa và nội khoa.
- Tuy nhiên, không nên dùng lặp lại liều cho trẻ em, do các chất chuyển hóa tricloroethanol và acid tricloracetic có thể tích lũy, dẫn đến nguy cơ ức chế quá mức hệ thần kinh trung ương, tăng nồng độ bilirubin tự do và liên hợp ở trẻ sơ sinh, giảm khả năng gắn bilirubin với albumin, và góp phần gây nhiễm toan chuyển hóa.
- Các trường hợp tử vong ở trẻ em đã được ghi nhận khi sử dụng chloral hydrate để an thần trước các thủ thuật chẩn đoán hoặc điều trị.
- Do đó, việc sử dụng thuốc này cho trẻ em phải được thực hiện tại các cơ sở y tế, nơi có thể theo dõi chặt chẽ mức độ tỉnh táo của trẻ cho đến khi đủ điều kiện xuất viện.
- Người cao tuổi thường gặp các vấn đề về chức năng gan và thận, do đó cần điều chỉnh giảm liều chloral hydrate.
Lưu ý với phụ nữ có thai
- Việc dùng chloral hydrate kéo dài trong suốt thai kỳ có khả năng khiến trẻ sơ sinh bị phụ thuộc thuốc.
- Do đó, không khuyến cáo sử dụng chloral hydrate cho phụ nữ mang thai.
Lưu ý với phụ nữ cho con bú
- Chloral hydrate có thể bài tiết vào sữa mẹ, dẫn đến tình trạng ngủ gà ở trẻ sơ sinh khi người mẹ đang dùng thuốc.
- Vì lý do này, không nên sử dụng thuốc trong giai đoạn cho con bú.
Lưu ý khi lái xe và vận hành máy móc
- Cần cẩn trọng khi lái xe hoặc vận hành máy móc do chloral hydrate có thể gây ra tác dụng phụ là buồn ngủ.
Quá liều và cách xử lý
Quá liều Chloral hydrate và xử trí
Quá liều và độc tính
- Các biểu hiện quá liều bao gồm nôn mửa, có thể dẫn đến hoại tử dạ dày, suy giảm chức năng hô hấp, rối loạn nhịp tim, hạ thân nhiệt, co đồng tử, hạ huyết áp và hôn mê.
- Đối với bệnh nhân sống sót sau quá liều, có thể xuất hiện vàng da do tổn thương gan và albumin niệu do tổn thương thận.
- Một liều 4 g có khả năng gây ra các tình trạng bệnh lý nghiêm trọng, trong khi liều 10 g có thể dẫn đến tử vong.
Cách xử lý khi quá liều
- Thực hiện rửa dạ dày.
- Trong trường hợp bệnh nhân hôn mê, cần tiến hành đặt nội khí quản trước khi thực hiện rửa dạ dày.
- Áp dụng các phương pháp hỗ trợ chức năng hô hấp và tuần hoàn, đồng thời duy trì nhiệt độ cơ thể ở mức bình thường.
- Nếu cần, thực hiện hô hấp nhân tạo kèm oxy.
- Việc theo dõi tim liên tục là rất cần thiết, đặc biệt đối với những bệnh nhân có tiền sử bệnh tim.
- Bù dịch và điện giải, đảm bảo duy trì lưu lượng nước tiểu đầy đủ.
- Trong một số trường hợp, có thể cần đến lọc máu (thận nhân tạo) nhằm tăng cường loại bỏ tricloroethanol.
Quên liều và xử trí
- Nên uống liều đã quên ngay khi nhận ra, tuy nhiên, nếu thời điểm đó đã gần với liều tiếp theo, hãy bỏ qua liều đã quên.
- Tuyệt đối không được dùng hai liều cùng một lúc để bù.
Nguồn tham khảo
Tên thuốc: Chloral hydrate
Dược thư Quốc gia 2015, trang 428.
Ngày cập nhật: 1/10/2021
Bài viết này có hữu ích không?
Có0Không0

