13
Dược liệu ô liu chứa nhiều thành phần hóa học quý giá như vitamin E, đồng, sắt, canxi và các hợp chất hữu cơ. Nó được ứng dụng trong chữa bệnh và làm đẹp, hỗ trợ điều trị các bệnh như ung thư vú, bệnh tim mạch, táo bón, bệnh tiểu đường và cholesterol cao.
Tìm hiểu chung về Ô liu
Tên gọi, danh pháp
- Tên tiếng Việt: Oliu.
- Tên gọi khác: Ô liu; Olive.
- Danh pháp khoa học: Olea europaea.
Đặc điểm tự nhiên
- Ô liu là loài cây lâu năm xanh suốt quanh năm hoặc dạng bụi, có xuất xứ từ các vùng Địa Trung Hải, Châu Á và Châu Phi. Cây ô liu thường có chiều cao khiêm tốn, không vượt quá 8 – 15 mét; tại khu vực Pisciotta thuộc tỉnh Campania ở phía nam Ý, đã phát hiện một giống cây đặc biệt bao gồm 40.000 cây với đường kính thân cây vượt trội. Lá cây có màu xanh lục, hình dạng thuôn dài với kích thước từ 4 – 10 cm chiều dài và 1 – 3 cm chiều rộng. Thân cây thể hiện đặc trưng lồi lõm và xoắn rõ rệt.
- Hoa ô liu mang màu trắng và có lông tơ, cấu trúc gồm đài hoa và tràng hoa với 10 khe, hai nhị và một nhụy, nở thành chùm từ nách lá. Quả ô liu có hình dạng nhỏ dài 1 – 2,5 cm khi trưởng thành, với thịt quả mỏng và kích thước nhỏ hơn so với các cây ô liu hoang dã. Thời kỳ thu hoạch diễn ra khi lá chuyển từ màu xanh sang tím. Ô liu đen được đóng hộp thường được xử lý bằng cách tăng cường màu đen nhân tạo và có thể bổ sung gluconat sắt hóa học nhằm cải thiện tính thẩm mỹ.
Phân bố, thu hái, chế biến
- Hiện nay đã ghi nhận rất nhiều giống ô liu khác nhau. Các giống ô liu khác biệt có ảnh hưởng lớn đến các tính trạng như màu sắc, kích thước, hình thái và biểu hiện sinh trưởng, cũng như chất lượng cuối cùng của dầu ô liu. Giống ô liu được phân loại chủ yếu theo mục đích sử dụng: lấy dầu hoặc tiêu thụ trực tiếp.
- Do nhiều giống ô liu có khả năng cho quả thấp hoặc gần như không cho quả, chúng thường được trồng theo hệ thống cặp với một giống chính và một giống phụ được lựa chọn đặc biệt vì khả năng thụ phấn chéo hiệu quả cho cây chính. Gần đây, các nhà khoa học đang tập trung nỗ lực nhằm phát triển các giống lai mang những tính chất có lợi cho nông dân, ví dụ như khả năng kháng bệnh, tốc độ sinh trưởng nhanh hơn và năng suất quả cao hơn hoặc phù hợp hơn.
- Ô liu được trồng phổ biến ở các quốc gia ven Địa Trung Hải trên những vùng đất sỏi và khô ráo. Cây cũng được canh tác ở những địa phương khác như Trung Mỹ, Hoa Kỳ, Trung Quốc và Úc. Tại Việt Nam, ô liu đã được đưa vào trồng nhưng chưa được nhân rộng quy mô lớn.
Bộ phận sử dụng
- Các phần được tận dụng từ cây ô liu bao gồm vỏ thân, lá và dầu chiết xuất từ vỏ quả.
Thành phần hóa học
- Thành phần hóa học của ô liu bao gồm cả các axit béo bão hòa và axit béo không bão hòa. Dược liệu này cung cấp Vitamin E, Đồng, Sắt, Canxi, Natri cùng nhiều hợp chất hữu cơ khác như oleuropein, Hydroxytyrosol, Tyrosol, Axit Oleonalic và Quercetin. Đáng chú ý, Oleocanthal là hoạt chất có khả năng ức chế đau tương tự cơ chế tác dụng của Aspirin.
Công dụng của Ô liu
Theo y học cổ truyền
- Vỏ quả ô liu có vị đắng, chát và trong y học cổ truyền được ứng dụng thay thế Canhkina. Dầu chiết từ vỏ quả mang đặc tính làm nhầy, dịu nhẹ và nhuận tràng hiệu quả. Gôm tiết từ phần thân cây thể hiện tính chất trị thương. Dầu ô liu được nhân dân sử dụng do sở hữu tính lợi mật, tác dụng nhuận tràng nhẹ, và khi bôi ngoài giúp làm dịu cơn đau cũng như trị các bệnh ngoài da.
Theo y học hiện đại
- Ung thư vú: Các quan sát lâm sàng ghi nhận rằng phụ nữ tiêu thụ dầu ô liu với tần suất cao trong khẩu phần ăn hàng ngày có tỷ lệ mắc ung thư vú thấp hơn đáng kể so với nhóm không sử dụng dầu này.
- Bệnh tim mạch: Khi đưa dầu ô liu vào chế độ ăn hàng ngày, nhóm sử dụng này thể hiện nguy cơ mắc các bệnh tim cũng như nguy cơ nhồi máu cơ tim giảm so với những người dùng các loại dầu khác. Ngoài ra, tiêu thụ dầu ô liu còn hỗ trợ hạ cholesterol máu. Do cholesterol tăng cao và huyết áp tăng là những yếu tố nguy cơ chính dẫn đến bệnh tim, các nghiên cứu gần đây chứng minh rằng tuân theo chế độ ăn Địa Trung Hải chứa dầu ô liu làm giảm đáng kể nguy cơ các sự cố tim mạch, đột quỵ và tử vong do bệnh tim so với tuân theo chế độ ăn tương tự nhưng không có hoặc có rất ít dầu ô liu.
- Táo bón: Dùng đường uống dầu ô liu tỏ ra hiệu quả trong việc làm mềm phân và cải thiện tình trạng ở bệnh nhân táo bón.
- Bệnh tiểu đường: Nhóm sử dụng dầu ô liu với liều lượng cao hơn (khoảng 15 – 20 gam mỗi ngày) có nguy cơ mắc bệnh tiểu đường thấp hơn so với những người không tiêu thụ dầu này, tuy nhiên liều trên 20 gam mỗi ngày không mang lại thêm lợi ích sức khỏe. Các công trình nghiên cứu gần đây cho thấy dầu ô liu hỗ trợ tối ưu hóa kiểm soát lượng glucose trong máu ở bệnh nhân tiểu đường. Trong chế độ ăn Địa Trung Hải, dầu ô liu cũng có thể giảm nguy cơ xơ vữa động mạch ở bệnh nhân tiểu đường so với các loại dầu không bão hòa như dầu hướng dương.
- Cholesterol cao: Khi thay thế chất béo bão hòa bằng dầu ô liu trong chế độ ăn, có thể đạt được giảm mức cholesterol toàn phần ở bệnh nhân cholesterol cao. Tuy nhiên, một số loại dầu ăn kiêng khác cũng có khả năng hạ cholesterol toàn phần tốt hơn hoặc tương đương dầu ô liu.
- Huyết áp cao: Bổ sung dầu ô liu nguyên chất với lượng lớn vào khẩu phần ăn hàng ngày kết hợp với tiếp tục thực hiện các biện pháp điều trị thông thường cho huyết áp cao có thể cải thiện chỉ số huyết áp ở bệnh nhân tăng huyết áp trong vòng 6 tháng.
Liều dùng và cách dùng Ô liu
- Lá ô liu được ghi nhận có tác dụng tăng cường chức năng tim, hạ huyết áp nhẹ, ức chế phản ứng viêm, hỗ trợ điều trị viêm khớp, bảo vệ chức năng gan, và phòng chống biến chứng tiểu đường.
- Liều lượng khuyến cáo: sắc 5 – 10 g lá tươi, hoặc có thể chế tạo dạng cao chiết bằng nước hoặc ethanol, mỗi lần uống 0,25 – 0,5 g.
Bài thuốc kinh nghiệm
- Để hỗ trợ điều trị sỏi mật dầu, người bệnh được khuyến cáo sử dụng 100 g dầu oliu tinh khiết bằng cách ngậm và nuốt từng phần nhỏ cho đến hết liều.
- Trong quá trình bài tiết sỏi mật ra ngoài, bệnh nhân có thể tăng liều lên 100 – 200 g dầu oliu tinh khiết, sử dụng vào buổi sáng sớm nhất khi dạ dày chưa tiếp nhận thức ăn. Phương pháp này được cho là giúp làm mềm và thúc đẩy sỏi ra khỏi đường mật.
Lưu ý khi dùng Ô liu
- Mặc dù nguyên lý sử dụng dầu oliu tinh khiết có vẻ đơn sơ, nhưng trong thực hành lâm sàng việc tuân thủ liệu pháp này gặp khó khăn không nhỏ do dầu oliu là chất lipid có tính nhớt cao, dễ gây cảm giác khó nuốt và kích thích phản xạ nôn.
- Để cải thiện khả năng chịu đựng và tăng hiệu quả tuân thủ, các bác sĩ lâm sàng thường khuyến nghị kết hợp dầu oliu với dung dịch bạc hà để làm dễ chịu hơn quá trình nuốt, hoặc có thể pha trộn dầu oliu cùng cốt chanh hoặc nước bưởi để tăng tính hòa tan và giảm cảm giác khó chịu.
Nguồn tham khảo
Cây thuốc: https://caythuoc.org/
Thầy thuốc của bạn: https://amp.thaythuoccuaban.com/vithuoc/oliu.htm.
Tuyển tập 3033 cây thuốc đông y – Tuệ Tĩnh.
Bài viết này có hữu ích không?
Có0Không0

