15
Lá ổi chứa tinh dầu và các thành phần hóa học có lợi cho sức khỏe, được sử dụng để cải thiện tiêu chảy, giảm đau bụng và hỗ trợ điều trị bệnh Zona. Với công dụng kích thích nhu động ruột và điều trị tiêu chảy, lá ổi là một vị thuốc quý trong y học cổ truyền và hiện đại.
Tìm hiểu chung về Lá ổi
Tên gọi, danh pháp
- Ổi được gọi bằng danh pháp khoa học là Psidium guajava L., thuộc họ Sim (Myrtaceae). Ngoài ra, trong các tài liệu y học cổ truyền và dân gian, cây còn được biết đến với các tên gọi khác như Phan thạch lựu, Là ủi, Mù úi piếu, Mác ổi.
Đặc điểm tự nhiên
- Ổi là cây gỗ nhỏ đạt chiều cao từ 3 đến 6 mét. Thân cây ở giai đoạn non có màu xanh lục, tiết diện hình vuông với 4 cánh uốn lượn màu xanh do cuống lá kéo dài tạo thành; khi thân già đi, màu sắc chuyển sang nâu xám, tiết diện chuyển thành hình tròn và lớp vỏ ngoài mỏng manh, trơn nhẵn, dễ bong ra thành những mảng riêng rẽ. Toàn bộ thân non, lá và các cơ quan hoa đều phủ một lớp lông mịn đặc trưng. Lá mọc đối nhau trên thân, lá đơn, không có lá kèm kèm theo. Phiến lá có hình bầu dục, phần gốc lá thuôn tròn, phần đầu lá mọc lông gai hoặc hơi lõm, kích thước khoảng 11 – 16 cm dài và 5 – 7 cm rộng, mặt trên lá có màu xanh đậm hơn rõ rệt so với mặt dưới. Bìa lá nguyên vẹn, đặc biệt ở những lá non có một đường viền màu hồng tía chạy dài từ phiến lá cho đến cuống lá. Gân lá sắp xếp theo kiểu lông chim, gân chính nổi bật ở mặt dưới lá, có khoảng 14 – 17 cặp gân phụ. Cuống lá có màu xanh lục, hình trụ, dài 1 – 1,3 cm với rãnh cạn ở mặt trên. Hoa có kích thước lớn, màu trắng tinh khôi, mọc riêng lẻ tại nách lá, hoa lưỡng tính với 5 mầu. Lá bắc ngoài có dạng lá thường, lá bắc trong có dạng vảy nhỏ dài 3 – 4 mm với màu xanh hơi nâu. Cuống hoa dài 1,4 – 2,6 cm, màu xanh. Đế hoa hình chén cao 0,8 – 1,2 cm, màu xanh lục. Đài hoa dính liền thành một ống, khi hoa nở tách ra thành 4 – 5 thùy không đều nhau, mặt ngoài màu xanh, mặt trong màu trắng, kiểu nở tiền khai van. Cánh hoa có 5 cánh, hình dạng gần đều nhau, rời rạc, màu trắng mỏng manh dễ rụng ngay khi hoa nở, phiến hình bầu dục khum ở đỉnh, kích thước 1,4 – 1,6 cm dài và 0,6 – 0,8 cm rộng, mặt ngoài phủ nhiều lông mịn với 3 – 5 gân, móng nhỏ cong có lông mịn màu vàng, kiểu nở tiền khai năm điểm. Bộ nhị: Nhiều nhị rời rạc, sắp xếp không đều, đính thành nhiều vòng trên đế hoa; chỉ nhị dạng sợi dẹt màu trắng, gốc nhị màu vàng nhạt, dài 7 – 14 mm, có lông phủ; bao phấn màu vàng có 2 ô, nứt theo đường dọc hướng về phía trong, đính ở đáy; hạt phấn rời lẻ, nhỏ, hình tam giác tù ở đầu với kích thước 17 – 20 µm, màu vàng nâu có 3 lỗ. Lá noãn có 5 cánh, dính liền, bầu có 5 ô, mỗi ô chứa nhiều noãn, đính noãn theo kiểu trung trụ. Vòi nhụy 1, dạng sợi màu trắng hơi phình ở phần gốc, phủ nhiều lông mịn, dài 1 – 1,2 cm. Đầu nhụy 1, màu xanh, hình dạng đĩa. Quả mọng có hình cầu, hình trứng hoặc hình quả lê, đường kính 3 – 8 cm, mang phần đài tồn tại ở đỉnh quả. Hạt quả nhiều, màu vàng nâu, hình dạng đa giác.
Phân bố, thu hái, chế biến
- Ổi là cây ăn quả được trồng phổ biến ở hầu hết các địa phương trên cả nước, từ vùng đồng bằng cho đến miền núi, ngoại trừ những vùng có độ cao vượt quá 1500 mét. Cây có tính chất ưa ánh sáng mạnh, sinh trưởng và phát triển tốt nhất trong vùng khí hậu nhiệt đới và cận nhiệt đới. Điều kiện nhiệt độ thích hợp cho cây sinh trưởng nằm trong khoảng 15 – 45 độ C, trong đó nhiệt độ tối ưu cho sinh trưởng và cho ra nhiều quả là 23 – 28 độ C; nhu cầu lượng mưa hàng năm từ 1000 – 2000 mm. Ổi ra hoa và cho quả liên tiếp nhiều năm. Các cụm hoa thường xuất hiện trên những cành non mới phát triển trong cùng năm. Quá trình thụ phấn diễn ra nhờ gió hoặc các loài côn trùng thụ phấn. Vòng đời của cây có thể kéo dài 40 – 60 năm. Mùa khai hoa: tháng 3 – 4; mùa cho quả: tháng 8 – 9.
Bộ phận sử dụng
- Lá tươi và quả xanh là những phần được khai thác sử dụng trong y học cổ truyền.
Thành phần hóa học
- Lá ổi chứa tinh dầu với hàm lượng 0,31%, trong đó gồm các thành phần chính như dl-limonen, β-sitosterol, acid maslinic và acid guajavalic. Lá non và các bộ phận mầm của ổi tích tụ lượng tanin pyrogalic đáng kể (7-10%) cùng với khoảng 3% nhựa tự nhiên. Các bộ phận khác của cây như thân và quả ổi cung cấp pectin và vitamin C dồi dào. Hạt ổi tích lũy nồng độ tinh dầu cao hơn so với lá. Vỏ thân cây chứa acid ellagic — một hoạt chất polyphenol có vai trò dược lý quan trọng.
Công dụng của Lá ổi
Theo y học cổ truyền
- Trong y học cổ truyền, lá ổi non hoặc các mầm non được ghi nhận có khả năng: cải thiện tình trạng tiêu chảy và giảm đau bụng kèm theo rối loạn đi ngoài; lá tươi được áp dụng ngoài da để xử lý chấn thương, bầm dập, kiểm soát chảy máu từ vết thương và thúc đẩy lành vết loét; hỗ trợ điều trị bệnh Zona hiệu quả.
Theo y học hiện đại
- Các nghiên cứu hiện đại ghi nhận ổi có tác dụng kích thích nhu động ruột dẫn tới táo bón, đồng thời cũng được sử dụng để điều trị các trường hợp tiêu chảy.
Liều dùng và cách dùng Lá ổi
- Liều dùng khuyến cáo đối với lá ổi dao động từ 15 – 20 g mỗi ngày, có thể kết hợp với các vị dược liệu khác để tăng cường hiệu quả điều trị.
Bài thuốc kinh nghiệm
Trị tiêu chảy
- Nguyên liệu: 50 g lá ổi tươi.
- Phương pháp: Sắc bằng nước, đun sôi trong 15 – 30 phút, để nguội rồi chia thành nhiều lần uống.
Viêm dạ dày ruột cấp
- Nguyên liệu: 30 g lá ổi cắt nhỏ.
- Phương pháp: Rang kèm gạo, sau đó đun sôi, uống 2 lần mỗi ngày.
Chữa tiêu chảy cấp
- Nguyên liệu: Búp ổi 20 g, vỏ măng cụt 20 g, gừng nướng 10 g, gạo rang 20 g.
- Phương pháp: Sắc và uống.
Lưu ý khi dùng Lá ổi
- Lá ổi là dược liệu dễ tìm kiếm và phổ biến trong cộng đồng dân gian. Mặc dù nguồn gốc tự nhiên, nhưng lá ổi vẫn có những chỉ định, chống chỉ định và có khả năng gây tác dụng phụ nhất định. Không được tự ý lựa chọn hoặc tuân theo các (H2) Bài thuốc kinh nghiệm mà chưa được kiểm chứng, cần phải tham khảo ý kiến của các chuyên gia y tế để đánh giá chính xác tình trạng sức khỏe và nhận được hướng dẫn phù hợp.
Nguồn tham khảo
http://uphcm.edu.vn/caythuoc/index.php?q=book/export/html/338
Đỗ Tất Lợi – Những vị thuốc và cây thuốc Việt Nam
Bài viết này có hữu ích không?
Có0Không0

