Mộc lan là một loại cây gỗ lâu năm có đặc tính và công dụng hỗ trợ tiêu hóa, giảm đau bụng, kiềm chế buồn nôn và nôn mửa. Với thành phần hóa học phong phú, Mộc lan có khả năng ức chế quá trình loét dạ dày, giảm tiêu chảy và tăng cường tiết mật, đồng thời thể hiện hoạt tính kháng vi khuẩn và kháng viêm. Sử dụng Mộc lan cần lưu ý về liều dùng và cách dùng, đặc biệt tránh sử dụng đối với những người có tỳ vị hư nhược hoặc phụ nữ mang thai.
Tìm hiểu chung về Mộc lan
Tên gọi, danh pháp
- Tên Tiếng Việt: Mộc Lan.
- Tên gọi khác: Thiên mục mộc lan.
- Danh pháp khoa học: Magnolia officinalis.
Đặc điểm tự nhiên
- Mộc Lan chính thức (Magnolia officinalis) là một loại cây gỗ lâu năm có thân thể cao lớn. Thân cây đạt chiều cao từ 7 đến 15 m, vỏ ngoài mang sắc tím nâu đặc trưng. Lá mọc so le trên cành, không có tơ lông, cuống lá to và mập, dài khoảng 2,4 đến 4,4 cm; phiến lá có hình dạng trứng thuôn dài, kích thước từ 22 đến 40 cm chiều dài, 10 đến 20 cm chiều rộng, đỉnh lá hơi nhọn. Hoa Mộc lan có màu trắng tinh khôi, thơm nức, đường kính hoa có thể đạt tới 12 cm; cuống hoa to và thô. Quả Mộc lan có cấu trúc kép gồm nhiều đài tách rời, hình dạng trứng dài từ 9 đến 12 cm, đường kính 5 đến 6,5 cm.
Phân bố, thu hái, chế biến
- Mộc lan chưa được ghi nhận xuất hiện tự nhiên tại Việt Nam, phân bố chủ yếu ở những khu vực có khí hậu mát mẻ và ẩm ướt nằm tại Quảng Tây, Vân Nam, Phúc Kiến của Trung Quốc. Trong mùa hạ, cụ thể vào tháng 5 và tháng 6, người thu hái chọn những cây đã đạt 20 năm tuổi trở lên, tiến hành lấy vỏ (theo phương pháp tương tự như lấy vỏ quế). Sau đó đem về để chế biến sơ bộ. Hai phương pháp chế biến Mộc Lan phổ biến nhất trong thực tiễn gồm: • Phương pháp thứ nhất: Cho vỏ vào ngăn gỗ, đun nóng để bốc hơi nước, tiếp theo phun nước lạnh vào, lặp lại quy trình đun nóng bốc hơi nước và phun nước lạnh này 3 lần liên tiếp, sau đó cuộn vỏ thành cuộn. • Phương pháp thứ hai: Đào hố dưới đất, đặt vỏ Mộc lan vào hố, phủ lớp rơm và ủ trong khoảng 3 đến 4 ngày để bốc hơi nước, sau đó lấy ra cuộn thành ống. Ngoài hai phương pháp trên còn tồn tại nhiều cách chế biến khác, tuy nhiên các phương pháp này không được sử dụng rộng rãi. Vì các phương pháp chế biến đa dạng và mỗi người thực hiện khác nhau nên hình dáng và tính trạng của vị thuốc Mộc lan sẽ có sự khác biệt. Ở Việt Nam, quy trình chế biến Mộc lan thường chỉ dừng ở bước phơi khô, không thực hiện cuộn lại.
Bộ phận sử dụng
- Phần được sử dụng làm dược liệu là vỏ thân hoặc vỏ rễ sau khi phơi nắng hoặc sấy khô (vị thuốc từ vỏ thân hay vỏ rễ Mộc lan còn được gọi là Hậu phát theo ghi nhận trong các tài liệu y học cổ truyền).
Thành phần hóa học
- Trong bộ phận sử dụng làm thuốc của Mộc lan (vỏ thân hoặc vỏ rễ) chứa khoảng 5% hợp chất phenol gồm: Magnolola, tetra-hydro-magnolola, iso-magnolola — những hoạt chất này đóng vai trò quan trọng trong tác dụng dược lý của dược liệu. Thêm vào đó còn có khoảng 1% tinh dầu, với thành phần chủ yếu là machilola. Năm 1951 và 1952, các nhà khoa học Masao và Tomita đã chiết xuất được từ một loài mộc lan Nhật Bản một chất tinh thể tên là magnocurarin.
Công dụng của Mộc lan
Theo y học cổ truyền
- Vỏ thân và vỏ rễ Mộc lan được vận dụng trong bào chế thuốc với đặc tính vị đắng cay, tính ôn và không độc. Dược liệu này quy kinh vào ba hệ thống Tỳ, Vị và Đại trường. Công năng lâm sàng ghi nhận bao gồm hỗ trợ tiêu hóa khi bụng chướng, ăn không tiêu, giảm đau bụng, kiềm chế buồn nôn và nôn mửa, cũng như cải thiện táo bón.
Theo y học hiện đại
- Các mô hình thực nghiệm hiện nay đã chứng thực rằng các hoạt chất từ Mộc lan có khả năng ức chế quá trình loét ở niêm mạc dạ dày, giảm tình trạng tiêu chảy và tăng cường tiết mật trên các mô hình động vật thí nghiệm. Dược liệu này còn phát huy tác dụng giãn cơ trơn đường tiêu hóa, từ đó làm thuyên giảm các cơn co thắt ruột.
- Các nghiên cứu vi sinh vật học đã xác định Mộc lan thể hiện hoạt tính kháng lại nhiều chủng vi khuẩn bệnh lý, bao gồm Salmonella typhi (thương hàn), Vibrio cholerae (tả), Staphylococcus, Streptococcus và Shigella (lỵ).
- Theo các công trình nghiên cứu dược lý hiện đại, Mộc lan có khả năng ức chế sự tổng hợp các phân tử trung gian gây viêm, từ đó làm giảm cường độ phản ứng viêm.
- Cơ chế kháng hen phế quản của Mộc lan được xác định thông qua hai đường dẫn truyền:
- Ức chế sự tăng sinh tế bào lympho T trong các mô hình nuôi cấy in vitro, qua đó cản chặn phản ứng dị ứng trung gian tế bào (loại IV), từ đó giảm triệu chứng hen.
- Chiết xuất từ dược liệu gây giãn cơ trơn phế quản, dẫn đến mở rộng đường dẫn khí.
- Ngoài ra, y văn ghi nhận Mộc lan còn có tiềm năng ứng dụng trong quản lý các tình trạng bệnh lý khác như bệnh tim mạch vành, xơ vữa động mạch, ức chế kết tập tiểu cầu, đái tháo đường, trầm cảm, lo âu và suy giảm nhận thức Alzheimer.
Liều dùng và cách dùng Mộc lan
- Phương pháp sắc uống là cách dùng chủ yếu, với liều lượng khuyến cáo dao động từ 6 đến 12g mỗi lần.
Bài thuốc kinh nghiệm
Bài thuốc chữa đau bụng, viêm ruột, đi lỵ
- Hậu phác (vỏ rễ và vỏ thân Mộc lan) tam vật thang theo phương của Trương Trọng Cảnh: Hậu phác 6g, Chỉ thực 3g, Đại hoàng 3g, thêm nước 600ml. Sắc đến khi còn 300ml, chia thành 3 lần uống cách đều trong ngày.
Bài thuốc chữa đau bụng
- Lấy Hậu phác tẩm nước gừng, sau đó nướng hoặc sao vàng rồi tán nhỏ thành bột. Dùng liều 3 đến 4g dạng bột này, uống 2 đến 3 lần mỗi ngày.
Lưu ý khi dùng Mộc lan
- Tránh sử dụng dối với những người có tỳ vị hư nhược, cơ thể suy yếu hoặc phụ nữ đang mang thai, vì dược liệu có thể gây ảnh hưởng tiêu cực đến các nhóm đối tượng này.
- Mộc lan là dược liệu đã trở nên phổ biến tại nhiều địa phương. Dù bản chất là vị thuốc, nhưng Mộc lan vẫn có những chỉ định cụ thể, chống chỉ định và khả năng gây tác dụng không mong muốn. Bạn đọc và gia đình không nên tự quyết định sử dụng hoặc áp dụng các bài thuốc dân gian mà không có hướng dẫn chuyên môn. Khuyến cáo rằng bạn đọc nên tham khảo ý kiến bác sĩ hoặc chuyên gia để hiểu rõ tình trạng sức khỏe cá nhân trước khi sử dụng.
Nguồn tham khảo
Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi.
Poivre M, Duez P. Biological activity and toxicity of the Chinese herb Magnolia officinalis Rehder & E. Wilson (Houpo) and its constituents. J Zhejiang Univ Sci B. 2017;18(3):194-214. doi:10.1631/jzus.B1600299
Zhu Z, Zhang M, Shen Y, Wang H. [Pharmacological effect of cortex Magnoliae officinalis on digestion system]. Zhongguo Zhong Yao Za Zhi. 1997 Nov;22(11):686-8, 704 inside back cover. Chinese. PMID: 11243189.

