Măng cụt: Đặc điểm, lợi ích bất ngờ, cách dùng, tác dụng phụ và một số lưu ý

bởi thuvienbenh

Măng cụt là dược liệu có vị chát, được sử dụng để điều trị tiêu chảy, kiết lỵ, và các vấn đề về da. Với thành phần hóa học giàu tanin và xanthones, măng cụt có tác dụng kháng khuẩn, tiêu viêm và chống lão hóa. Bài viết sẽ cung cấp thông tin về đặc điểm, lợi ích, cách dùng và lưu ý khi sử dụng măng cụt.

Tìm hiểu chung về Măng cụt

Tên gọi, danh pháp

  • Tên tiếng Việt: Măng cụt (Vỏ quả).
  • Tên gọi khác: Sơn trúc tử; măng cụt tía.
  • Danh pháp khoa học: Garcinia mangostana L., thuộc họ Clusiaceae (họ Bứa).

Đặc điểm tự nhiên

  • Măng cụt là cây gỗ lâu năm có thân cây to lớn, chiều cao có thể đạt tới 20m khi trưởng thành. Lá cây khá dày, màu xanh lục sẫm đặc trưng, hình thái thuôn dài, kích thước chiều dài dao động 15–20cm, chiều rộng khoảng 7–10cm.
  • Trong thực tế quan sát, người ta chỉ ghi nhận được cây cái. Các nghiên cứu hình thái học cho thấy ở các nhị lép (staminode) bao quanh bầu có thể chứa phấn hoa.
  • Quả măng cụt có kích thước tương đương quả cam nhỏ, hình dáng cầu tròn. Vỏ quả bên ngoài dày cứng, màu đỏ sẫm ở bề ngoài, phần đỉnh có đầu nhụy, phía gốc có lá đài. Bên trong quả chứa từ 6 đến 18 hạt, xung quanh mỗi hạt là áo hạt có thể ăn được.

Phân bố, thu hái, chế biến

  • Theo các tài liệu lịch sử, cây măng cụt có nguồn gốc từ các đảo LaSôngđơ và Môluyc (Malaysia, Indonesia), sau đó được các nhà truyền giáo đạo gia tô di thực vào miền Nam Việt Nam. Hiện nay, dược liệu này được canh tác phổ biến ở Nam Bộ, đồng thời còn thấy phân bố ở Philipin, Inđônêxya và Malaixia.
  • Cây được trồng chủ yếu nhằm thu hoạch áo hạt dùng làm thực phẩm; vỏ quả được sấy hoặc phơi khô để sử dụng chữa trị tình trạng ỉa lỏng hoặc kiết lỵ.

Bộ phận sử dụng

  • Vỏ quả và vỏ thân cây là những phần được khai thác làm dược liệu.

Thành phần hóa học

  • Vỏ quả măng cụt đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu do tiềm năng ứng dụng trong công nghiệp thuộc da. Thành phần tanin trong vỏ quả dao động từ 7-13%, tuy nhiên hàm lượng này không đáp ứng tiêu chuẩn của ngành công nghiệp thuộc da vì tỷ lệ chất không phải tanin so với tanin vượt quá giới hạn cho phép (tối đa 1 phần chất khác trên 2 phần tanin). Theo số liệu từ Bull. Office Colonial số 136 tháng 4-1919, phần tan trong nước của vỏ măng cụt chứa khoảng 13,61% tanin và 14,59% chất không phải tanin, vượt xa yêu cầu của các chuyên gia thuộc da.
  • Ngoài tanin, nhà nghiên cứu W. Schmidt đã ghi nhận sự hiện diện của chất nhựa và hoạt chất mangostin (C20H22O5) trong vỏ quả. Mangostin có dạng tinh thể phiến nhỏ, màu vàng tươi sáng, không có vị, hòa tan trong rượu và chất kiềm nhưng không hòa tan trong nước. Điểm nóng chảy của hoạt chất này là 175°C.
  • Quy trình chiết xuất mangostin từ vỏ măng cụt được thực hiện như sau: Tiến hành chiết kiệt vỏ quả trước tiên bằng nước lạnh, sau đó tiếp tục chiết kiệt bằng nước sôi. Trộn lẫn toàn bộ hai dung dịch nước thu được, rồi cô đặc và bốc hơi đến khô. Bước tiếp theo, rửa cặn bằng nước và hòa tan dung dịch chiết vào rượu. Thêm nước và axit axetic vào hỗn hợp rượu này, để trong thời gian thích hợp cho tinh thể bắt đầu kết tủa, sau đó gạn và ép để tách riêng tinh thể.
  • Khi thêm dung dịch clorua feric vào chất mangostin, dung dịch chuyển sang màu lục đen nhạt, cho thấy sự biến đổi màu đặc trưng. Ngược lại, khi thêm axit sunfuaric vào hoạt chất này, dung dịch biến sang màu đỏ, phản ánh phản ứng hóa học khác biệt của mangostin với các tác nhân hóa học.
Xem thêm:  Xạ Can: Vị Thuốc Thanh Nhiệt, Giải Độc và Trị Viêm Họng Từ Thiên Nhiên

Công dụng của Măng cụt

Theo y học cổ truyền

  • Tính vị: Măng cụt có vị chát đặc trưng. Trong y học cổ truyền, vỏ quả măng cụt được ghi nhận có công năng làm săn chắc da, trừ lỵ và cầm máu tiêu chảy. Dược liệu này được chỉ định điều trị các chứng tiêu chảy, kiết lỵ, khí hư và bạch đới. Vỏ thân cây cũng được sử dụng với tác dụng tương tự trong điều trị tiêu chảy. Tại các nước Malaixia, Campuchia, Philipin, người dân truyền thống sắc nước vỏ măng cụt để chữa các chứng đau bụng kèm theo đi ỉa lỏng và kiết lỵ; ngoài ra, dân gian còn ứng dụng để điều trị bệnh hoàng đản (vàng da).

Theo y học hiện đại

  • Vỏ quả chứa một lượng đáng kể các hoạt chất xanthones, nhóm hợp chất thể hiện tính chất kháng khuẩn và tiêu viêm rõ rệt theo các ghi nhận khoa học. Khi sử dụng nước sắc vỏ măng cụt để súc miệng sau bữa ăn, có thể giảm mùi thức ăn còn lại, ức chế sự sinh sôi của vi khuẩn trong khoang miệng, từ đó phòng ngừa hiện tượng hôi miệng và cải thiện mùi hơi thở. Theo các công trình nghiên cứu được tiến hành tại Mỹ, vỏ quả măng cụt chứa các chất chống lão hóa có hiệu lực vượt trội, thậm chí mạnh hơn cả vitamin C và E; vì thế, người ta thường khai thác dược liệu dưới dạng phơi khô hoặc chiết xuất để sử dụng trong chăm sóc da, đắp mặt nạ nhằm chống lão hóa. Hoạt chất Xanthones trong vỏ quả hỗ trợ cơ thể ngăn ngừa sự tích tụ cholesterol xấu và tham gia vào quá trình điều trị béo phì; dân gian thường pha trà từ vỏ măng cụt để đạt được hiệu quả làm da căng chắc và ổn định lượng cân nặng. Xanthones còn tăng cường quá trình chuyển hóa dinh dưỡng thành năng lượng để cơ thể hoạt động hiệu quả hơn. Dạng chiết xuất vỏ quả măng cụt phát huy tác dụng ức chế sự phát triển của các vi khuẩn gây bệnh lý tại đường tiêu hóa. Đặc biệt, hoạt chất Garcinone E có trong vỏ quả được chứng minh có khả năng ức chế sự tăng sinh của các tế bào ung thư tại dạ dày, phổi và gan; ngoài ra, hợp chất xanthone còn hỗ trợ tiêu diệt các tế bào ác tính và giảm thiểu tác hại từ các gốc tự do.

Liều dùng và cách dùng Măng cụt

  • Vỏ măng cụt có thể được ứng dụng dưới nhiều dạng bào chế khác nhau gồm sắc nước uống, đắp ngoài da hoặc pha trà; liều lượng sử dụng được điều chỉnh phù hợp tùy theo mức độ nặng nhẹ của từng tình trạng bệnh lý cụ thể.

Bài thuốc kinh nghiệm

Bài thuốc măng cụt giúp trị vàng da, đau bụng, chữa lỵ

  • Lấy khoảng 10 vỏ quả măng cụt, đặt vào nồi nấu (tuyệt đối tránh sử dụng nồi kim loại như tôn hay sắt). Đổ nước lạnh vào cho đến khi ngập hoàn toàn vỏ quả, sau đó đun sôi trong khoảng 15 phút. Hàng ngày có thể uống khoảng 3 đến 4 chén nước sắc từ vỏ măng cụt này.
Xem thêm:  Củ cải ngựa: Công dụng đối với sức khỏe và cách dùng

Bài thuốc chữa tiêu chảy, đau bụng

  • Chuẩn bị nguyên liệu gồm vỏ quả măng cụt khô 60g, hạt thìa và hạt mùi mỗi thứ khoảng 5g. Trộn đều các nguyên liệu rồi đun nấu với 1200ml nước cho đến khi chỉ còn lại 600ml nước sắc. Dùng hai lần mỗi ngày, mỗi lần uống khoảng 120ml nước sắc chứa vỏ măng cụt.

Bài thuốc trị rạn da cho phụ nữ sau sinh

  • Chuẩn bị vỏ quả măng cụt khô đã được phơi nắng khoảng 2 lần. Cho vỏ quả vào bình thủy tinh và ngâm trong rượu trắng 40 độ trong vòng khoảng 2 tuần. Khi sử dụng, gạn một ít rượu ngâm rồi thoa nhẹ lên các vùng da bị rạn như bụng, đùi hoặc mông.

Bài thuốc chữa lỵ

  • Chuẩn bị nguyên liệu bao gồm vỏ quả măng cụt 6g, rau má, cỏ sữa, rau sam, bạch hoa thảo mỗi loại 8g, cam thảo và vỏ quýt mỗi loại khoảng 4g, trà xanh 6g, cùng vài lát gừng tươi. Sắc toàn bộ hỗn hợp này để lấy nước dùng nhiều lần trong ngày.

Lưu ý khi dùng Măng cụt

  • Cần tránh tiêu thụ quả măng cụt liên tục trong thời gian kéo dài do có thể gây tác dụng phụ.
  • Trước khi thực hiện can thiệp phẫu thuật, nên ngừng sử dụng măng cụt ít nhất khoảng 2 tuần trước đó, bởi vì chất xanthones có trong măng cụt có khả năng ảnh hưởng đến quá trình đông kết máu trong suốt thời gian phẫu thuật diễn ra.
  • Khi chế biến hay sắc dược liệu này, lựa chọn sử dụng dụng cụ bằng gỗ hoặc nồi đất để tránh phản ứng với các vật liệu kim loại.

Nguồn tham khảo

Tra cứu dược liệu: https://tracuuduoclieu.vn/mang-cut-vt.html

Cây thuốc và vị thuốc Việt Nam_Đỗ Tất Lợi.

Bài viết này có hữu ích không?
0Không0