12
Giềng giềng là dược liệu quý với nhựa cây hỗ trợ bảo vệ sức khỏe, có vị se, dùng để điều trị nọc độc, tiêu chảy, kiết lỵ, và các vấn đề về giun.
Tìm hiểu chung về Giềng giềng
Tên gọi, danh pháp
- Tên Việt Nam: Giềng giềng, Gièng gièng, Cây lâm vố, Kok chăn, Cây hoa thơm, Dây máu.
- Tên gọi quốc tế: Bastard teak, Bengal kino tree, flame of the forest, butea gum (tiếng Anh); buteé touffue, érythrine monosperme (tiếng Pháp).
- Danh pháp khoa học: Butea monosperma (Lam.) Taub. Thuộc họ Fabaceae (Đậu).
Đặc điểm tự nhiên
- Giềng giềng là cây gỗ cao 8 – 10 m, có thân cong vặn và cành phân bố không đều. Vỏ cây dày, có bề mặt loang lỗ, màu xám nâu với những đốm trắng như mốc, chứa nhựa có sắc đỏ đặc trưng. Cành non mọc lông mềm.
- Lá cây to và là lá kép lông chim lẻ. Cuống lá chung dài 12 – 20 cm, có rãnh rõ ở giữa. Mỗi lá kép gồm 3 lá chét, dài 10 – 20 cm và không đồng nhất về hình dáng. Lá chét ở vị trí cuối có hình thoi – mắt chim. Hai lá chét bên không cân xứng, hình trái xoan hoặc trái xoan ngược, có đỉnh tù, mặt dưới phủ lông mềm dày đặc. Lá kèm rất nhỏ.
- Cụm hoa mọc ở kẽ lá, tập trung thành chùm dài thõng xuống. Lá bắc của hoa dễ rụng. Hoa có sắc vàng nhạt hoặc đỏ da cam rực rỡ, cong vòng, phủ lông mềm, xếp thành chuỳ hình trụ dài. Tràng hoa gồm cánh cờ rộng ngửa ra phía sau, cánh hoa bên hình liềm, cánh thìa hình nửa vòng tròn; bộ nhị hoa có nhị tách rời.
- Quả đậu thuôn, tù ở hai đầu, rất mỏng, có lông mềm trắng nhạt, bề mặt có vân mạng, mép quả dày. Hạt màu đỏ, hình bầu dục rộng, bề mặt nhẵn và phẳng.
- Thời kỳ ra hoa thường kéo dài từ tháng 6 đến tháng 10.
Phân bố, thu hái, chế biến
- Chi Butea Roxb có 2 loài ghi nhận tại Việt Nam, trong đó giềng giềng là một loài tiêu biểu. Cây ưa ánh sáng, thường mọc ở các chỗ trống giữa rừng bụi, trong rừng thưa rụng lá và rừng thưa loài cây họ Dầu, trên nền đất sét cát, ở độ cao có thể lên tới 1.500 m.
- Giềng giềng phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới Nam Á và Đông Nam Á, bao gồm Ấn Độ, Sri Lanka, các quốc gia Đông Dương cho đến Indonesia (Nêpan, Mianma, Trung Quốc, Campuchia, Thái Lan). Tại Việt Nam, cây mọc phổ biến ở các khu trống vùng đồng bằng và trong các cánh rừng savan, trên loại đất sét cát ở độ cao tới 1.500 m, phân bố từ Quảng Trị đến Đồng Nai (cụ thể: Quảng Trị, Kon Tum, Gia Lai, Đăk Lăk, Đăk Nông, Đồng Nai).
- Giềng giềng thích nghi tốt với điều kiện khí hậu nhiệt đới điển hình, nơi có hai mùa khô và mưa phân biệt rõ rệt. Cây ưa sáng, thường sinh trưởng trên đất đỏ bazan có khả năng thấm nước tốt, ra hoa quả dồi dào, hoa có sắc đỏ bắt mắt nên thường được trồng làm cây cảnh và cung cấp bóng mát ở các không gian công cộng. Hạt cây có sức nảy mầm mạnh mẽ.
- Gỗ giềng giềng có màu đỏ tía, cứng chắc và chịu lực cao, tuy nhiên do sợi gỗ không thẳng nên ít được dùng trong xây dựng, chủ yếu dùng đốt để lấy than. Than từ gỗ giềng giềng cháy bền lâu và cung cấp năng lượng cao. Ngoài ra, nhựa trích từ vỏ thân cây cho loại gôm đỏ chất lượng tốt, và vỏ thân là nguồn nguyên liệu quan trọng để sản xuất tannin (Vu van Dung et al, 1996).
Bộ phận sử dụng
- Phần cây được khai thác sử dụng bao gồm nhựa, hạt và vỏ. Nhựa chiết xuất từ cây gồm khoảng nửa thành phần là gôm.
Thành phần hóa học
- Nhựa từ cây giềng giềng có thành phần gôm chiếm gần một nửa khối lượng. Từ phần gôm này đã được tách chiết được leucocynictin; ngoài ra còn phát hiện pyrocatechin, acid kinotannic và các hợp chất gôm khác. Cả lá và hoa đều tích tụ glucosid trong mô của chúng.
- Hạt chứa 3 loại alcaloid có độc tính đối với giun đất; hàm lượng dầu màu vàng trong hạt đạt 18,97%; hạt ở giai đoạn tươi còn chứa các enzyme proteolytic và lipolytic có hoạt tính.
- (H2) Thành phần hóa học của hoa bao gồm glucosid với nồng độ 1,5%, butrin 0,3%, butein 0,04%, cùng với một glucosid và một heterosid khác ở nồng độ 0,02%.
Công dụng của Giềng giềng
Theo y học cổ truyền
- Nhựa cây mang màu sắc đỏ đặc trưng, có khả năng đông kết khi tiếp xúc với không khí, phồng lên khi ngâm trong nước lã và tạo ra màu sắc hấp dẫn cho dung dịch. Nhựa này có đặc điểm vị se.
- Theo y học cổ truyền, hạt có vị ngọt, chát, tính bình và đóng vai trò khu trùng hiệu quả. Hạt còn thể hiện tính chất tẩy sạch và khả năng trừ giun. Lá có tính chất se, bổ dưỡng. Hoa se, lợi tiểu, lọc máu và kích dục. Vỏ cây cùng hạt được sử dụng để điều trị nọc độc.
Theo y học hiện đại
Tác dụng trên giun đất
- Dịch chiết từ hạt giềng giềng thể hiện tác dụng độc hại với giun đất trong điều kiện in vitro. Các nhà nghiên cứu đã xác định thành phần gây độc trong dịch chiết hạt giềng giềng tác động trên giun là các alkaloid.
- Tại Ấn Độ, hạt được áp dụng thay thế santonin trong việc trục giun. Gôm nhựa từ cây được vận dụng để điều trị ỉa chảy và kiết lỵ. Vỏ cây và hạt được dùng để xử trí nọc độc từ rắn.
- Tại Campuchia, nhựa cây được ứng dụng để xử lý ỉa chảy ở cả trẻ em và người lớn. Ngoài ra, nhựa cây còn được vận dụng để băng bó vết thương và vết loét bằng cách kết hợp với nhựa dầu mè (Jatropha curcas) để tạo thành bột đắp lên các vết thương, mụn nhọt và viêm hạch. Phương pháp này sử dụng lá Sa nhân (Amomum zerumbet) được giã kết hợp theo tỷ lệ 8 phần lá cây, 2 phần muối ăn và 1 phần nhựa Giềng giềng.
- Ở Vân Nam (Trung Quốc), hạt được áp dụng để trục giun đũa, sán dây, và điều trị tình trạng cam tích ở trẻ em.
Nghiên cứu sàng lọc về dược lý
- Một công trình sàng lọc tác dụng dược lý đã được tiến hành tại Ấn Độ trên 3 loại cao khô được chiết từ lá, hoa và hạt giềng giềng bằng cồn 500. Liều dùng in vitro áp dụng cho động vật thí nghiệm là 250 mg/kg đối với cao lá và hoa, 5 mg/kg đối với cao hạt. Các tác dụng được đánh giá bao gồm hoạt tính kháng khuẩn, kháng nấm, tác động trên amip Entamoeba histolytica, trên giun Nippostrongylus brasiliensis, trên virus, mức glucose huyết, hô hấp, huyết áp, hoạt động tự nhiên, thân nhiệt, hồi tràng chuột lang cô lập và một số dòng tế bào ung thư. Đối với cao hạt giềng giềng, các nhà nghiên cứu còn đánh giá cả tác dụng lợi tiểu trên chuột cống trắng. Kết quả cho thấy chỉ cao lá giềng giềng thể hiện tác dụng ức chế sự co bóp trên hồi tràng chuột lang cô lập.
Liều dùng và cách dùng Giềng giềng
- Hạt giềng giềng được vận dụng trong điều trị nhiễm giun với liều lượng hàng ngày từ 0,5 – 1,5g. Dịch tươi ép từ hạt có tác dụng nhuận tràng hiệu quả. Gôm nhựa thu được từ cây được chỉ định trị tiêu chảy và kiết lỵ với liều hàng ngày 0,5 – 1,5g.
- Khi áp dụng liều cao khoảng 2 – 3g mỗi ngày, dược liệu được sử dụng để can thiệp lao phổi, viêm hạch, xuất huyết dạ dày và bàng quang. Ngoài ra, hạt giềng giềng còn được dùng trong xử trí vết thương.
- Lá và hoa của giềng giềng được vận dụng chữa rối loạn kinh nguyệt. Vỏ cây kết hợp với gừng được chỉ định trị sổ mũi, cảm lạnh và ho. Cả vỏ cây lẫn hạt đều có thể được dùng để điều trị vết rắn cắn.
Bài thuốc kinh nghiệm
Chữa giun
- Hạt giềng giềng được ngâm trong nước cho tróc vỏ, sau đó lấy nhân hạt phơi khô rồi nghiền thành bột mịn.
- Mỗi lần dùng 0,6 – 1,2g, trộn đều với mật ong. Uống 3 lần mỗi ngày, liên tục trong 3 ngày. Vào ngày thứ tư, sử dụng 10 – 20ml dầu thầu dầu để tẩy sạch.
- Cần lưu ý rằng hạt giềng giềng khó uống và có thể gây buồn nôn, hoa mắt, chóng mặt.
Chữa vết thương, vết loét, mụn nhọt, viêm hạch
- Trộn nhựa giềng giềng với nhựa dầu mè một cách đều đặn, sau đó bôi lên vùng bị bệnh. Ngoài ra, có thể giã nát lá sa nhân tươi 8 phần cùng muối 2 phần và nhựa giềng giềng 1 phần, rồi đắp bó lên vị trí cần điều trị.
Chữa tiêu chảy, kiết lỵ
- Kết hợp gôm nhựa giềng giềng 0,6 – 2g, bột quế 0,1g và nhựa thuốc phiện 0,02g. Trộn đều và dùng đường uống (theo tài liệu y học Ấn Độ).
Lưu ý khi dùng Giềng giềng
- Các nghiên cứu độc tính đã xác lập rằng liều dung nạp tối đa của cao khô từ lá giềng giềng là 1.000 mg/kg khi tiêm phúc mạc, và liều gây tử vong trung bình của cao khô hạt tiêm phúc mạc ở chuột nhắt trắng là 20 mg/kg.
- Những số liệu này cho thấy hạt giềng giềng sở hữu mức độ độc tính đáng kể, do đó cần tuân thủ chặt chẽ các liều lượng được khuyến cáo và tránh sử dụng quá liều.
Nguồn tham khảo
Từ điển cây thuốc Việt nam – Võ Văn Chi.
Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi.
Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam (Tập 1).
https://tracuuduoclieu.vn/gieng-gieng.html
Bài viết này có hữu ích không?
Có0Không0

