14
Bóng nước là dược liệu quý có tên khoa học Impatiens balsamina L., thuộc họ Balsaminaceae. Bộ phận chủ yếu được khai thác làm dược liệu là thân và cành, chứa nhiều axit hữu cơ có tính kháng sinh, được sử dụng để khử phong thấp, hoạt huyết và chỉ thống, điều trị phong thấp, chấn thương sưng đau và cắn rắn rết.
Tìm hiểu chung về Bóng nước
Tên gọi, danh pháp
- Tên Việt: Bóng nước.
- Tên gọi khác: Móng tay; phượng tiên hoa; nắc nẻ; móng tay lồi; bông móng tay; phượng tiên hoa; cấp tính tử.
- Danh pháp khoa học: Impatiens balsamina L. Thuộc họ Balsaminaceae.
Đặc điểm tự nhiên
- Bóng nước là cỏ sinh một năm, có thể đạt chiều cao khoảng 40 cm. Lá sắp xếp so le, có cuống rõ rệt, hình dạng mác với đầu nhọn, mép lá có răng cưa rất nổi bật, kích thước thường 7 – 8 cm chiều dài và 2 – 2,5 cm chiều rộng. Hoa nở tại nách lá, lưỡng tính nhưng không đều hình, màu sắc đa dạng từ đỏ đến trắng, gồm 5 lá dài cùng tông màu với tràng hoa, phân bố không đều đặn. Cấu trúc hoa gồm 5 cánh, 5 nhị, chỉ nhị ngắn với bao phấn dính sát lại chung quanh nhụy; 5 lá noãn liên kết tạo thành bầu thượng chia 5 ô, mỗi ô chứa nhiều noãn. Quả nang khi chín sẽ nứt thành 5 mảnh xoắn lại, phát tán hạt đi xa.
Phân bố, thu hái, chế biến
- Bóng nước mọc hoang tự nhiên và được canh tác làm cây cảnh tại nhiều khu vườn trên toàn lãnh thổ Việt Nam. Dược liệu cũng được ghi nhận mọc và trồng ở các vùng miền nam Trung Quốc cũng như Ấn Độ.
- Trong thực hành lâm sàng, thân và cành là bộ phận chủ yếu được khai thác làm dược liệu: Vào mùa hạ và thu, người ta hái toàn cây sau đó loại bỏ rễ, lá và hoa quả, rồi phơi nắng hoặc sấy khô; ngoài ra có thể ngâm cây tươi vào nước sôi rồi phơi hoặc sấy khô. Bộ phận này cũng có thể sử dụng ở trạng thái tươi.
- Hạt bóng nước, còn gọi là cấp tính tử, được thu hái từ quả chín, sau đó phơi khô, đập lấy hạt và phơi lại cho hoàn toàn khô.
- Lá tươi cũng được khai thác để làm thuốc.
Bộ phận sử dụng
- Toàn cây.
Thành phần hóa học
- Toàn cây bóng nước chứa nhiều axit hữu cơ có tính chất kháng sinh như axit p-hydroxybenzoic, axit gentisic C7H6O4, axit ferulic C10H10O4, axit p-cumaric C9H8O3, axit sinapic C11H12O5, axit cafeic C9H8O4, cùng với scopoletin C10H8O4.
- Lá dược liệu này tích lũy axit xinnamic (nhục quế toan), kaempferol-3 arabinozit và kaempferol.
- Thân chứa các flavonoid quan trọng gồm kaempferol 3-glucozit, quercetin, pelargonidin, cyanidin và delphindin.
- Hạt là nguồn chứa 17,9% chất béo với thành phần chủ yếu là axit parinaric hay axit A9,10,13,15-octadecatetraenoic C18H28O7 (khoảng 27%), balsaminasterol C27H20O, sipinasterol C29H44O (khoảng 0,015%), saponin, và các đa đường mà khi thủy phân tạo ra glucoza và fructoza.
- Hoa chứa lawsone C10H6O3 và lawsone methyl ether C11H8O3. Thành phần anthocyanin trong hoa biến đổi theo màu sắc: hoa trắng tích lũy leucocyanidin và leucodelphindin, hoa tím chứa malvidin glucozit, hoa đỏ chứa pelargonidin, paeonidin và delphindin dưới dạng glucozit. Dịch ép từ hoa bóng nước thể hiện hoạt tính kháng sinh đáng kể.
Công dụng của Bóng nước
Theo y học cổ truyền
- Cây bóng nước được ghi chép trong tài liệu "Bản thảo cương mục" với tên gọi "Phượng tiên", trong khi hạt được đề cập trong "Cứu hoang bản thảo" với tên "Cấp tính tử".
- Phần thân lá phát huy tác dụng khử phong thấp, hoạt huyết và chỉ thống, được áp dụng trong điều trị phong thấp, chấn thương sưng đau và các trường hợp cắn rắn rết. Theo ghi nhận trong sách cổ, phụ nữ mang thai cần tránh sử dụng.
- Hạt bóng nước có khả năng giáng khí, hành ứ, thường được vận dụng để xử trí kinh nguyệt bế tắc, đẻ khó, nấc nghẹn và hóc xương.
- Lá được cộng đồng dân gian khai thác để nấu nước gội đầu, nhằm tăng cường sự phát triển của tóc.
Theo y học hiện đại
- Hiện chưa có ghi nhận từ các công trình nghiên cứu y học hiện đại.
Liều dùng và cách dùng Bóng nước
- Áp dụng cho trường hợp khử phong thấp, hoạt huyết và chỉ thống nhằm xử trí phong thấp, chấn thương với sưng đau, hoặc cắn rắn rết: liều uống hàng ngày từ 4 đến 12 g dưới hình thức nước sắc. Phương pháp dùng ngoài không áp dụng hạn chế liều lượng. Theo kinh nghiệm y văn cổ đại, phụ nữ có thai không nên sử dụng.
- Đối với hạt dùng để giáng khí, hành ứ nhằm xử trí kinh nguyệt bế tắc, đẻ khó, nấc nghẹn và hóc xương: liều dùng 3 lần mỗi ngày, mỗi lần 4–6 g dưới dạng bột thuốc hoặc viên nang.
- Lá được khai thác theo phương pháp dân gian để nấu nước gội đầu, kích thích tóc phát triển tốt hơn.
Bài thuốc kinh nghiệm
- Không có ghi nhận bài thuốc kinh nghiệm.
Lưu ý khi dùng Bóng nước
- Phụ nữ mang thai là đối tượng chống chỉ định sử dụng bóng nước.
- Bóng nước là loài thực vật lan rộng ở nhiều địa phương, và dù có xuất xứ từ thiên nhiên, dược liệu này sở hữu những chỉ định, chống chỉ định cụ thể cũng như những phản ứng phụ tiềm ẩn. Vì vậy, người sử dụng không nên tự phát sử dụng dựa trên kinh nghiệm dân gian mà không tham khảo ý kiến chuyên gia. Cần tìm đến bác sĩ để được đánh giá tình trạng sức khỏe hiện tại và nhận được hướng dẫn điều trị phù hợp. Chia sẻ thông tin này nếu nhận thấy giá trị tham khảo. Chúng tôi kỳ vọng tiếp nhận ý kiến phản hồi và sự quan tâm từ bạn đọc đối với những nội dung khác.
Nguồn tham khảo
https://tracuuduoclieu.vn/hoa-bong-nuoc.html
Bài viết này có hữu ích không?
Có0Không0

