15
Bằng lăng tía (Lagerstroemia calyculata) là vị thuốc dân gian được sử dụng chủ yếu từ vỏ cây để chữa bỏng, vết thương và lỵ trực khuẩn. Nhờ hàm lượng tanin cao cùng các hoạt chất flavonoid, saponin và alkaloid, vỏ bằng lăng tía có tác dụng kháng khuẩn, kháng nấm mạnh, giúp se vết thương, ức chế vi khuẩn Shigella và một số nấm da. Dược liệu được áp dụng rộng rãi trong y học dân tộc Tây Nguyên và một số tỉnh miền Trung.
Tìm hiểu chung về Bằng lăng
Tên gọi, danh pháp
- Tên Việt: Bằng lăng tía.
- Tên gọi địa phương: Bằng lăng ổi, Thao lao, Săng lẻ, Rờ pa, Tơ ruôn (Ba Na).
- Danh pháp khoa học: Lagerstroemia calyculata Kurz. Họ: Tử vi (Lythraceae).
Đặc điểm tự nhiên
- Bằng lăng tía là loại cây gỗ to lớn, có chiều cao trưởng thành từ 20 – 30 m. Cành non bao phủ lông hình sao màu hung sắc kèm theo cạnh rõ rệt, trong khi cành già mọc hình trụ với bề mặt trơn nhẵn. Lá sắp xếp so le, hình dạng mác, kích thước rộng 2 – 5 cm và dài 7 – 14 cm, có đầu nhọn và gốc thuôn dần; phiến lá kéo dài. Mặt trên lá ban đầu có lông hình sao rồi trở nên nhẵn; mặt dưới lông phủ dày đặc hơn, gân lá tạo thành mạng lưới chằng chịt rõ rệt; cuống lá ngắn, mặt phủ lông mịn.
- Cụm hoa mọc ở tận cùng thành chùm hoa dài 12 – 20 cm, toàn bộ phủ lông màu vàng; lá bắc rõ rệt; hoa màu trắng tập hợp 6 – 8 bông tại mỗi mấu, đài hình chuông có lông và 6 thuỳ phân biệt; 6 cánh hoa đều có móng đặc trưng; nhị rất nhiều và sắp xếp gần đều nhau; bầu có lông ở phần đỉnh với vòi nhụy kéo dài. Quả dạng nang, hình trứng đặc trưng. Quả dài 1,2 cm, chìm sâu 1/3 trong cấu trúc đài, đầu có mũi nhọn, khi trưởng thành nứt thành 6 mảnh.
- Mùa hoa quả: Tháng 5 – 7.
Phân bố, thu hái, chế biến
- Chi Lagerstroemia L. bao gồm các đại diện thuộc nhóm cây gỗ và cây bụi, chủ yếu phân bố ở Australia và các vùng nhiệt đới Đông – Nam Á. Một số loài cung cấp gỗ có giá trị kinh tế, trong khi các loài khác sở hữu hoa đẹp nên thường được trồng làm cây cảnh.
- Trên lãnh thổ Việt Nam, hiện nay có khoảng 20 loài Lagerstroemia, tập trung phân bố ở các vùng núi, đặc biệt từ tỉnh Nghệ An trở vào phía bắc. Bằng lăng tía phân bố khá rộng rãi ở một số tỉnh phía Bắc và phía Nam như Thanh Hoá, Sơn La, Quảng Bình, Nghệ An, cùng các tỉnh thuộc khu vực Tây Nguyên và Tây Nam bộ. Loài này thường mọc ở độ cao dưới 800 m so với mực nước biển. Bên cạnh đó, bằng lăng tía còn được ghi nhận ở Lào và Campuchia.
- Bằng lăng tía là cây gỗ lớn, thường xuất hiện rải rác trong rừng tự nhiên. Tuy nhiên, trong một số trường hợp nhất định, chúng cũng mọc khá tập trung, kết hợp cùng các loài cây khác như Cratoxylum polyanthum, Shorea obtusa, Careya sphaerica, Anisoptera costata… tạo nên kiểu rừng nửa rụng lá nhiệt đới — một hệ sinh thái rừng đặc trưng của Việt Nam. Bằng lăng tía ưa thích mọc trên các loại đất đỏ bazan có khả năng thấm nước tốt và hàm lượng mùn ở mức vừa phải. Cây ra hoa quả đều đặn hàng năm với lượng lớn. Khả năng tái sinh từ hạt cũng như từ gốc sau khi chặt đều đạt mức khá tốt. Bằng lăng tía thường bị khai thác để lấy gỗ và củi.
Bộ phận sử dụng
- Bộ phận được sử dụng chủ yếu là gỗ loại hồng sắc có giá trị. Cư dân miền Nam thường khai thác vỏ thân và lá làm nguyên liệu chữa bỏng và lỵ.
Thành phần hóa học
- Vỏ cây bằng lăng tía chứa một tập hợp các hoạt chất chủ yếu bao gồm: alkaloid, flavonoid, tanin, saponin, coumarin và sterol — những thành phần này đóng vai trò quan trọng trong tác dụng dược lý của dược liệu. Trong số đó, tanin là hoạt chất chiếm tỷ lệ đáng kể, chủ yếu dưới dạng tanin catechic (chiếm khoảng 23%) cùng với một phần nhỏ hơn tanin gallic (chiếm khoảng 7%). Bên cạnh các hoạt chất trên, vỏ cây còn tích tụ đường, gôm, pectin và các chất nhầy có tính dính kết. Đáng chú ý, hàm lượng tanin trong phần lá thấp hơn so với vỏ thân, trong khi tỷ lệ gôm và chất nhầy lại cao hơn ở lá so với vỏ thân.
Công dụng của Bằng lăng
Theo y học cổ truyền
- Hiện chưa có ghi nhận thông tin về công dụng theo quan điểm y học cổ truyền.
Theo y học hiện đại
- Trong các mô phỏng in vitro, cao lỏng chiết từ vỏ bằng lăng tía đã biểu hiện khả năng ức chế sự sinh trưởng của nhiều chủng vi khuẩn bệnh lý, với mức độ hoạt tính sắp xếp theo thứ tự giảm dần bao gồm: Shigella shigae, Bacillus subtilis, Proteus vulgaris, Sh. flexneri, Sh. sonnei, Salmonella typhi, Escherichia coli, Staphylococcus aureus, Pseudomonas aeruginosa.
- Thông qua kỹ thuật pha loãng liên tiếp, các nhà nghiên cứu đã xác định được nồng độ ức chế tối thiểu của cao lỏng vỏ bằng lăng tía trên các nấm gây bệnh da liễu ngoài da, cụ thể là: Epidermophyton inguinale (1:1), Trichophyton rubrum (1,5:1), Trichophyton gypseum (1,5:1) và Candida albicans (2:1).
- Tanin — một thành phần chủ lực có tính chất kháng khuẩn mạnh — được xác định là hoạt chất chính tập trung trong vỏ và lá của bằng lăng tía. Kết quả thử nghiệm độc tính cấp trên chuột trắng cho uống cho thấy liều LD50 của vỏ cây là 60 g/kg và của lá cây là 112,5 g/kg. Khi tiến hành các thí nghiệm in vitro trên các chủng nấm được phân lập từ bệnh nhân, cao nước vỏ bằng lăng tía thể hiện khả năng ức chế đối với 4 loại nấm nêu trên, trong đó hiệu lực mạnh nhất được ghi nhận với Epidermophyton inguinale.
- Cao vỏ bằng lăng tía chỉ kìm hãm quá trình sinh trưởng của nấm trong khoảng thời gian nhất định mà không đạt mục đích tiêu diệt hoàn toàn. Khi ứng dụng dung dịch cồn vỏ bằng lăng tía nồng độ 30% trong điều trị bệnh nấm ngoài da trên nhóm 60 bệnh nhân, tỷ lệ bệnh nhân đạt tiêu chí khỏi bệnh là 86%. Sử dụng dạng viên bào chế từ cao vỏ để điều trị lỵ trực khuẩn đã cho kết quả điều trị rất khả quan, đặc biệt ở những trường hợp lỵ mức độ nhẹ, hiệu quả vượt trội so với tetracyclin và cloramphenicol, tương đương với bactrim.
- Đối với bệnh nhân lỵ ở mức độ vừa phải, hiệu quả điều trị của bằng lăng tía không bằng bactrim, nhưng tương đương với tetracyclin và cloramphenicol. Ngoài ra, bằng lăng tía còn được ứng dụng rộng rãi trong điều trị bỏng ở các mức độ tổn thương khác nhau; cao đặc chiết từ vỏ bằng lăng tía phát huy tác dụng se khô vết thương và hình thành lớp màng bảo vệ trên bề mặt bỏng mà không cần sử dụng băng gạc phủ, từ đó giảm thiểu cảm giác đau khi thay băng. Đồng thời, cao đặc này còn giúp ức chế quá trình nhiễm khuẩn thứ phát và thúc đẩy tái tạo mô bằng cách loại bỏ nhanh các mô hoại tử ở vị trí tổn thương.
- Trong nhóm bệnh nhân bỏng có diện tích tổn thương từ 5 – 15% cơ thể, kết quả lâm sàng cho thấy cao bằng lăng tía hình thành được lớp màng bảo vệ hiệu quả trên những vết bỏng nông và gây cảm giác xót; tuy nhiên, với những vết bỏng sâu hơn, cao bằng lăng tía không tạo được lớp màng liên tục và bền vững, dễ xảy ra hiện tượng rạn nứt, do đó hiệu quả điều trị giảm đáng kể.
- Một số loài khác trong chi Lagerstroemia đã được các nhà khoa học Ấn Độ thực hiện sàng lọc các hoạt tính dược lý trên mô hình động vật thí nghiệm. Toàn bộ cây trừ phần rễ của L. speciosa đã thể hiện tác dụng kháng lại siêu vi khuẩn gây bệnh Ranikhet, đồng thời dược liệu này cũng sở hữu khả năng làm giảm huyết áp.
Liều dùng và cách dùng Bằng lăng
- Trong điều trị các nhiễm nấm ngoài da, phương pháp áp dụng bao gồm sử dụng cao chiết với cồn 60% từ vỏ cây bằng lăng tía nồng độ 15% để bôi trực tiếp lên vùng da tổn thương.
- Đối với chứng lỵ, vỏ cây bằng lăng tía được nấu thành cao rồi chế biến thành viên thuốc uống. Trong trường hợp lỵ trực khuẩn, bệnh nhân cần uống từ 10 – 15 viên mỗi ngày, với mỗi viên tương ứng khoảng 1,5 g dược liệu khô. Khóa điều trị kéo dài 10 – 15 ngày, thời gian loại bỏ khuẩn Shigella ngắn hơn so với sử dụng cloroxit hay ganidan. Đối với trẻ nhỏ dưới 5 tuổi, liều lượng được giảm xuống 3 – 6 viên/ngày, sử dụng liên tục trong 5 – 7 ngày.
- Trong xử trí bỏng, cao đặc từ vỏ cây bằng lăng tía được bôi phủ lên vết thương bỏng mà không cần dùng băng che phủ. Với vết thương phần mềm, cần rửa sạch trước rồi mới thực hiện bôi cao tương tự. Khi sử dụng cao lỏng được hâm nóng, nó tạo thành một lớp màng bền, dai dặn và dính chắc trên vết thương nhưng vẫn có tính chất kích ứng. Nếu áp dụng bột bằng lăng tía, dễ xảy ra tình trạng nứt nẻ và bột không bám chắc bằng dạng cao.
Bài thuốc kinh nghiệm
- Trong thực hành y dân các nhóm dân tộc Gia Rai và Ba Na tại vùng Tây Nguyên, nước sắc vỏ cây bằng lăng tía được dùng để rửa và đắp trực tiếp lên vết thương, vết bỏng, và được ghi nhận có hiệu quả trong điều trị lỵ và ghẻ lở.
- Theo kinh nghiệm dân gian ở các tỉnh miền Trung, cao bằng lăng tía kết hợp cùng cao từ lá ổi và lá sim đã được áp dụng để chữa vết thương phần mềm, hắc lào và eczema với kết quả lâm sàng khả quan.
- Theo ghi nhận trong y học dân gian, bằng lăng tía được sử dụng để điều trị bệnh nấm ngoài da bằng cách dùng cồn săng lẻ 30% bôi lên các vùng tổn thương, mỗi ngày 2 lần, cho hiệu quả rõ rệt hơn khi so sánh với cồn chút chít và bạch hạc.
Lưu ý khi dùng Bằng lăng
- Cần tránh nhầm lẫn giữa Bằng lăng tía (Lagerstroemia calyculata Kurz.) với Bằng lăng nước (Lagerstroemia speciosa Pers.), vì chúng là hai loài thực vật khác nhau với công dụng không giống nhau.
- Bằng lăng tía, có danh pháp khoa học Lagerstroemia calyculata Kurz., được các dân tộc Gia Rai và Ba Na ở Tây Nguyên sử dụng rộng rãi dưới dạng nước sắc vỏ cây để rửa và đắp vết thương, vết bỏng, và chữa trị lỵ cũng như ghẻ lở.
- Bằng lăng nước, mang danh pháp khoa học Lagerstroemia speciosa Pers., lại được ứng dụng chủ yếu trong điều trị tiêu chảy, và theo ghi nhận dân gian còn được dùng để can thiệp bệnh đái tháo đường.
Nguồn tham khảo
https://tracuuduoclieu.vn/bang-lang-tia.html
https://tracuuduoclieu.vn/bang-lang-nuoc.html
Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi.
Cây thuốc và động vật làm thuốc Việt Nam.
Bài viết này có hữu ích không?
Có0Không0

