Phenylephrine là một loại thuốc chủ vận α1-adrenergic, được sử dụng để điều trị hạ huyết áp, sung huyết mũi và làm giãn đồng tử. Thuốc có nhiều dạng và hàm lượng khác nhau, bao gồm viên nén, dung dịch uống, thuốc tiêm, dung dịch nhỏ mắt và mũi. Phenylephrine hoạt động bằng cách kích thích các thụ thể α1-adrenergic, gây co mạch và tăng huyết áp. Tuy nhiên, thuốc cũng có thể gây ra các tác dụng phụ như tăng huyết áp, đau đầu và cảm giác đánh trống ngực.
Tổng quan về Phenylephrine
Tên thuốc gốc (Hoạt chất)
- Phenylephrine hydrochloride (Phenylephrin hydrochlorid).
Loại thuốc
- Thuốc tác dụng giống thần kinh giao cảm α1 (thuốc chủ vận α-adrenergic)
Dạng thuốc và hàm lượng
- Viên nén: 5 mg, 10 mg.
- Thuốc tiêm: 10 mg/1 ml.
- Dung dịch uống: 7,5 mg/5 ml, loại dùng cho trẻ em: 2,5 mg/5 ml.
- Viên đặt hậu môn: 0,25%.
- Cream, gel, mỡ: 0,25%.
- Dung dịch nhỏ mắt: 0,12% và 2,5% (ọ 5 ml, 10 ml và dạng đơn liều) để tra mắt, chống sung huyết mắt.
- Dung dịch nhỏ mũi: 0,125%; 0,16%; 0,25%; 0,5% và 1% (lọ 5 ml và 10 ml) để nhỏ mũi, chống sung huyết mũi.
- Dung dịch nhỏ mắt: 1%; 2,5% và 10% (lọ 10 ml và dạng đơn liều) để tra mắt làm giãn đồng tử.
Chỉ định Phenylephrine
Chỉ định
Toàn thân:
- Ngày nay, việc chỉ định thuốc này đã trở nên hạn chế. Trong quá khứ, thuốc từng được dùng để xử trí tình trạng hạ huyết áp trong sốc sau khi đã bù đủ thể tích dịch, hoặc hạ huyết áp phát sinh do gây tê tủy sống; điều trị cơn nhịp nhanh kịch phát trên thất; và nhằm kéo dài tác dụng của thuốc tê trong gây tê tủy sống hoặc gây tê vùng.
- Để điều trị sung huyết mũi, phenylephrine có thể được dùng qua đường uống.
Tại chỗ:
- Khi dùng tại mắt dưới dạng nhỏ, thuốc giúp làm giãn đồng tử (trong các trường hợp viêm màng bồ đào có nguy cơ gây dính; để chuẩn bị trước khi thực hiện phẫu thuật nội nhãn; hoặc trong mục đích chẩn đoán).
- Ngoài ra, thuốc nhỏ mắt cũng được sử dụng để giảm sung huyết kết mạc (trong viêm kết mạc cấp tính).
- Dưới dạng nhỏ mũi, thuốc có tác dụng làm giảm sung huyết ở mũi và xoang do cảm lạnh.
Dược lực học
Dược lực học
- Phenylephrine hoạt động như một chất chủ vận α1-adrenergic, trực tiếp kích thích các thụ thể α1-adrenergic, từ đó gây co mạch và làm tăng huyết áp.
- Tác dụng α-adrenergic của phenylephrine phát sinh do sự ức chế sản xuất AMP vòng (cAMP: cyclic adenosin -3’, 5’-monophosphat) thông qua việc làm giảm hoạt động của enzym adenyl cyclase, trong khi tác dụng β-adrenergic lại liên quan đến sự kích thích hoạt tính của adenyl cyclase.
- Ngoài ra, phenylephrine còn thể hiện tác dụng gián tiếp bằng cách thúc đẩy sự giải phóng norepinephrin từ các túi chứa vào hệ tuần hoàn.
- Khi sử dụng lặp lại nhiều lần, thuốc có khả năng gây ra hiện tượng quen thuốc nhanh, dẫn đến giảm dần hiệu quả điều trị.
Dược động học
Dược động học
Hấp thu
- Sự hấp thu của phenylephrine qua đường tiêu hóa diễn ra không đồng đều; sinh khả dụng của thuốc chỉ đạt tối đa 38%.
Phân bố
- Thuốc phân bố rộng rãi vào các mô cơ thể, với thể tích phân bố ban đầu dao động từ 26 đến 61 lít và đạt 340 lít ở trạng thái ổn định. Hiện tại, chưa có thông tin xác định liệu thuốc có bài tiết vào sữa mẹ hay không.
Chuyển hóa
- Quá trình chuyển hóa của phenylephrine diễn ra tại gan và ruột, chủ yếu thông qua hoạt động của enzym monoaminoxidase (MAO) qua các phản ứng oxy hóa khử amin và liên hợp với acid glucuronic.
Thải trừ
- Phần lớn lượng thuốc được đào thải qua thận ở dạng không đổi, chưa trải qua quá trình chuyển hóa.
Tương tác thuốc Phenylephrine
Tương tác với các thuốc khác
- Phentolamin và các thuốc chẹn thụ thể alpha-adrenergic làm giảm hiệu quả tăng huyết áp của phenylephrine.
- Các phenothiazin, ví dụ clorpromazin, có thể làm yếu tác dụng tăng huyết áp và rút ngắn thời gian hoạt động của phenylephrine.
- Propranolol và các thuốc chẹn beta-adrenergic sẽ ức chế tác động kích thích tim của phenylephrine hydroclorid.
- Các thuốc hỗ trợ sinh nở (như oxytocin) có thể làm gia tăng tác dụng tăng huyết áp của phenylephrine.
- Không nên kết hợp phenylephrine với epinephrine hoặc các loại thuốc cường giao cảm khác.
- Các thuốc gây mê chứa hydrocarbon halogen hóa, chẳng hạn cyclopropan, có thể làm tăng cường kích thích tim và dẫn đến rối loạn nhịp tim.
- Các chất ức chế monoaminoxidase (MAO) làm tăng cường cả tác dụng kích thích tim lẫn tác dụng tăng huyết áp của phenylephrine hydroclorid.
- Thuốc chống trầm cảm ba vòng (ví dụ imipramin) hoặc guanethidin cũng làm tăng tác động nâng huyết áp của phenylephrine.
- Atropin sulfat và các thuốc gây liệt thể mi sẽ làm tăng cường cả tác dụng tăng huyết áp lẫn tác dụng giãn đồng tử của phenylephrine.
- Các alcaloid nấm cựa gà dạng tiêm, ví dụ ergonovin maleat, có thể gây tăng huyết áp nghiêm trọng.
- Digitalis làm tăng độ nhạy cảm của cơ tim đối với phenylephrine.
- Furosemid và các loại thuốc lợi tiểu khác sẽ làm giảm hiệu quả tăng huyết áp khi dùng cùng với phenylephrine.
- Pilocarpin, một thuốc co đồng tử, có tác dụng đối lập với khả năng giãn đồng tử của phenylephrine.
- Ở bệnh nhân đang sử dụng guanethidin dài ngày, phenylephrine có thể gây tăng đáp ứng giãn đồng tử và tăng huyết áp mạnh.
- Hiệu quả giãn đồng tử của phenylephrine bị suy giảm đáng kể ở những bệnh nhân đang dùng levodopa.
- Không được sử dụng đồng thời phenylephrine với bromocriptine.
Tương kỵ thuốc
- Trong trường hợp cần phối hợp với thuốc gây tê, butacain không được sử dụng.
- Phenylephrine không tương thích với các chất kiềm, muối sắt, tác nhân oxy hóa và kim loại.
Chống chỉ định thuốc Phenylephrine
Chống chỉ định
- Chống chỉ định ở bệnh nhân mắc các bệnh tim mạch nghiêm trọng, bao gồm nhồi máu cơ tim và bệnh mạch vành.
- Không dùng cho bệnh nhân bị tăng huyết áp nặng, block nhĩ thất, xơ cứng động mạch nghiêm trọng hoặc nhịp nhanh thất.
- Chống chỉ định với người bệnh cường giáp nặng hoặc glôcôm góc đóng.
- Dung dịch phenylephrine 10% không được chỉ định cho trẻ nhỏ hoặc người lớn tuổi.
- Không dùng cho những người có tiền sử dị ứng với phenylephrine, mẫn cảm chéo với pseudoephedrin, hoặc bất kỳ thành phần nào khác của thuốc.
- Dạng uống của phenylephrine không được sử dụng đồng thời với các thuốc ức chế MAO, hoặc nếu bệnh nhân đã ngưng dùng thuốc ức chế MAO trong vòng chưa đầy 14 ngày. Ngoài ra, thuốc cũng chống chỉ định cho phụ nữ mang thai trong ba tháng đầu.
Liều lượng & cách dùng Phenylephrine
Liều dùng
- Để đạt hiệu quả tối ưu, liều lượng phenylephrine cần được điều chỉnh cụ thể như sau:
Người lớn
- Đối với người trưởng thành:
Dùng toàn thân:
- Khi sử dụng đường toàn thân, cần áp dụng liều thấp nhất mang lại hiệu quả và trong thời gian ngắn nhất có thể:
- Hạ huyết áp: Liều khởi đầu là 2 – 5 mg (tương đương 0,2 – 0,5 ml dung dịch 1%) được tiêm dưới da hoặc tiêm bắp; các liều tiếp theo có thể dao động từ 1 – 10 mg tùy thuộc vào đáp ứng của bệnh nhân. Ngoài ra, có thể tiêm tĩnh mạch chậm 100 – 500 microgam (0,1 – 0,5 ml dung dịch đã pha loãng 10 lần, tức là 0,1%), và lặp lại liều này sau ít nhất 15 phút nếu cần.
- Hạ huyết áp nặng: Trong trường hợp hạ huyết áp nặng, hòa tan 1 ống 10 mg thuốc vào 500 ml dung dịch glucose 5% hoặc natri clorid 0,9% (đạt nồng độ 20 microgam/ml). Sau đó, tiêm truyền tĩnh mạch với tốc độ khởi đầu lên tới 180 microgam/phút, sau đó giảm dần xuống 30 – 60 microgam/phút tùy theo đáp ứng của người bệnh.
- Hạ huyết áp trong khi gây tê tủy sống (dự phòng): Tiêm 2 – 3 mg dưới da hoặc bắp thịt, 3 – 4 phút trước khi thực hiện thủ thuật.
- Điều trị cấp cứu hạ huyết áp trong khi gây tê tủy sống: Tiêm tĩnh mạch với liều khởi đầu 0,2 mg; các liều tiếp theo không được vượt quá liều trước đó 0,1 – 0,2 mg, và không có liều đơn nào được vượt quá 0,5 mg.
- Kéo dài thời gian tê trong gây tê tủy sống: Có thể bổ sung 2 – 5 mg phenylephrine hydroclorid vào dung dịch thuốc tê.
- Gây co mạch trong gây tê vùng: Để đạt hiệu quả co mạch, nồng độ thuốc khuyến cáo tối ưu là 0,05 mg/ml (tỷ lệ 1: 20000). Để chuẩn bị dung dịch gây tê, thêm 1 mg phenylephrine vào mỗi 20 ml dung dịch thuốc tê.
- Cơn nhịp nhanh kịch phát trên thất: Tiêm tĩnh mạch nhanh (trong khoảng 20 – 30 giây) với liều khởi đầu không vượt quá 0,5 mg; các liều tiếp theo có thể tăng thêm 0,1 – 0,2 mg tùy thuộc vào phản ứng huyết áp của bệnh nhân. Huyết áp tâm thu không được vượt quá 160 mmHg. Liều tối đa cho một lần dùng là 1 mg.
- Điều trị sung huyết mũi: Có thể dùng thuốc qua đường uống với liều 10 mg mỗi lần, uống cách nhau 4 giờ, và tổng liều tối đa không quá 60 mg/ngày.
Nhỏ mắt:
- Đối với việc nhỏ mắt, liều dùng thông thường cho người lớn và thanh thiếu niên được khuyến cáo như sau:
- Giãn đồng tử và co mạch: Nhỏ 1 giọt dung dịch 2,5% hoặc 10% vào kết mạc, lặp lại sau 1 giờ nếu cần thiết.
- Gây giãn đồng tử kéo dài: Nhỏ 1 giọt dung dịch 2,5% hoặc 10% vào kết mạc, 2 – 3 lần mỗi ngày.
- Viêm màng bồ đào có dính mống mắt sau (điều trị hoặc dự phòng): Nhỏ 1 giọt dung dịch 2,5% hoặc 10% vào kết mạc, có thể lặp lại sau 1 giờ nếu cần, nhưng không vượt quá 3 lần/ngày. Việc điều trị có thể tiếp tục sang ngày hôm sau nếu cần thiết. Ngoài ra, có thể sử dụng atropin sulfat và đắp gạc nóng theo chỉ định.
- Điều trị mắt đỏ: Nhỏ 1 giọt dung dịch 0,12% vào kết mạc, mỗi 3 – 4 giờ một lần khi cần.
- Gây giãn đồng tử trước khi phẫu thuật: Nhỏ 1 giọt dung dịch 2,5% hoặc 10% vào kết mạc, 30 – 60 phút trước khi phẫu thuật.
- Gây giãn đồng tử để tiến hành chẩn đoán:
- Đo khúc xạ: Nhỏ 1 giọt thuốc làm liệt thể mi vào kết mạc; sau 5 phút, nhỏ thêm 1 giọt dung dịch phenylephrine 2,5%. Việc có cần nhỏ thêm thuốc liệt thể mi hay không và thời gian chờ đợi trước khi thể mi bị liệt sẽ phụ thuộc vào loại thuốc liệt thể mi đã được sử dụng.
- Soi đáy mắt: Nhỏ 1 hoặc 2 giọt dung dịch 2,5% vào kết mạc, 15 – 30 phút trước khi soi, có thể lặp lại sau khoảng 10 – 60 phút nếu cần thiết.
- Soi võng mạc: Nhỏ 1 giọt dung dịch 2,5% vào kết mạc.
- Test làm trắng (blanching test): Để phân biệt viêm kết mạc và viêm mống mắt – thể mi: nhỏ 1 giọt dung dịch 2,5% vào mắt bị nhiễm khuẩn; sau 5 phút, quan sát vùng trắng xung quanh rìa củng – giác mạc.
Nhỏ mũi:
- Khi sử dụng qua đường nhỏ mũi để giảm sung huyết mũi:
- Người lớn và thiếu niên: Nhỏ 2 – 3 giọt (hoặc phun sương) dung dịch 0,25 – 0,5% vào mỗi bên mũi, mỗi 4 giờ một lần nếu cần. Trong trường hợp nghẹt mũi nặng, ban đầu có thể sử dụng dung dịch 1%.
Trẻ em
- Đối với trẻ em:
Dùng toàn thân:
- Khi dùng đường toàn thân để điều trị hạ huyết áp trong gây tê tủy sống: nhà sản xuất khuyến nghị liều 0,044 – 0,088 mg/kg, tiêm bắp hoặc dưới da.
Nhỏ mắt:
- Khi nhỏ mắt cho trẻ em:
- Giãn đồng tử và co mạch: Nhỏ 1 giọt dung dịch 2,5% vào kết mạc, lặp lại sau 1 giờ nếu cần.
- Làm giãn đồng tử lâu dài: Nhỏ 1 giọt dung dịch 2,5% vào kết mạc, 2 – 3 lần mỗi ngày.
- Điều trị viêm màng bồ đào kèm dính phía sau: Nhỏ 1 giọt dung dịch 2,5% vào kết mạc, lặp lại sau 1 giờ nếu cần. Có thể tiếp tục điều trị vào ngày tiếp theo. Nếu có chỉ định, có thể sử dụng atropin sulfat và đắp gạc nóng.
- Làm giãn đồng tử trước khi phẫu thuật: Nhỏ 1 giọt dung dịch 2,5% vào kết mạc, 30 – 60 phút trước khi tiến hành phẫu thuật.
- Làm giãn đồng tử để tiến hành chẩn đoán:
- Đo khúc xạ: Nhỏ 1 giọt dung dịch atropin 1% vào kết mạc; sau 10 – 15 phút, nhỏ 1 giọt dung dịch phenylephrine 2,5%; và thêm 5 – 10 phút sau đó, nhỏ giọt atropin 1% thứ hai. Trong vòng 1 đến 2 giờ tiếp theo, mắt sẽ sẵn sàng cho việc đo.
- Soi đáy mắt, soi võng mạc, test làm trắng, mắt đỏ: Liều lượng cho các trường hợp này tương tự như liều dùng cho người lớn.
- Ghi chú: Các lưu ý quan trọng: không được sử dụng dung dịch 10% cho trẻ nhỏ. Không dùng cả dung dịch 10% và 2,5% cho trẻ sơ sinh có cân nặng khi sinh thấp. Để phòng ngừa nguy cơ tăng huyết áp ở trẻ em, chỉ nên dùng dung dịch tra mắt 0,5%. Thuốc không nên được sử dụng cho trẻ em dưới 1 tuổi.
Nhỏ mũi:
- Khi dùng đường nhỏ mũi để giảm sung huyết mũi:
- Trẻ nhỏ cho tới 2 tuổi: Liều lượng sẽ được bác sĩ chỉ định cụ thể cho từng bệnh nhân.
- Từ 2 – 6 tuổi: Nhỏ 2 – 3 giọt dung dịch 0,125 – 0,16% vào mỗi bên mũi, mỗi 4 giờ một lần nếu cần thiết.
- Từ 6 – 12 tuổi: Nhỏ 2 – 3 giọt hoặc phun sương dung dịch 0,25% vào mỗi bên mũi, mỗi 4 giờ một lần khi cần. Không nên dùng dung dịch 0,5% để nhỏ mũi cho trẻ dưới 12 tuổi.
- Từ 12 tuổi trở lên: Trẻ từ 12 tuổi trở lên sử dụng liều tương tự người lớn.
Cách dùng
- Về phương thức sử dụng:
- Phenylephrine có thể được dùng bằng cách tiêm dưới da, tiêm bắp (sử dụng dung dịch 1%), tiêm tĩnh mạch chậm (với dung dịch 0,1%), hoặc truyền tĩnh mạch (10 mg pha trong 500 ml dung dịch glucose 5% hoặc natri clorid 0,9%).
- Các dung dịch dùng để nhỏ mắt có nồng độ từ 2,5% đến 10%; trong khi dung dịch nhỏ mũi có nồng độ từ 0,125% đến 0,5%.
- Ngoài ra, thuốc còn có dạng dung dịch và viên nén để dùng qua đường uống.
Tác dụng phụ của Phenylephrine
Thường gặp
- Các biểu hiện thần kinh như kích thích, bồn chồn, lo lắng, và khó ngủ.
- Cảm giác suy nhược, chóng mặt, và đau tức vùng ngực.
- Run rẩy, cùng với cảm giác tê bì ở các đầu chi.
- Tăng huyết áp, da tái nhợt hoặc trắng bệch, cảm giác lạnh ở da, và lông tóc dựng đứng.
- Phản ứng kích ứng tại vị trí dùng thuốc.
Ít gặp
- Tăng huyết áp kèm theo tình trạng phù phổi.
- Rối loạn nhịp tim, bao gồm cả nhịp tim chậm.
- Co thắt mạch máu ở ngoại vi và nội tạng, dẫn đến giảm lưu lượng máu tới các cơ quan tương ứng.
- Suy giảm chức năng hô hấp.
- Các biểu hiện tâm thần như cơn hưng phấn, ảo giác, và hoang tưởng.
- Nếu tiêm và thuốc bị thoát ra ngoài mạch, có thể gây hoại tử hoặc tróc vảy tại chỗ.
- Sự giải phóng các hạt sắc tố trong mống mắt và làm mờ giác mạc.
Hiếm gặp
- Tình trạng viêm cơ tim khu trú.
- Chảy máu dưới màng ngoài tim.
Lưu ý khi dùng Phenylephrine
Lưu ý chung
- Bệnh nhân sốc cần được bù dịch đầy đủ trước khi bắt đầu điều trị bằng phenylephrine.
- Phenylephrine hydroclorid không nên được coi là phương pháp điều trị độc lập cho những người bệnh có tình trạng giảm thể tích máu.
- Việc theo dõi sát sao áp lực tĩnh mạch trung tâm hoặc huyết áp thất trái là cần thiết để sớm nhận diện và xử lý tình trạng giảm thể tích máu. Đồng thời, cần giám sát áp lực tĩnh mạch trung tâm hoặc áp lực động mạch phổi nhằm ngăn ngừa quá tải cho hệ tuần hoàn, vốn có thể dẫn đến suy tim sung huyết.
- Hiệu quả của phenylephrine có thể bị suy giảm trong trường hợp bệnh nhân bị thiếu oxy máu hoặc nhiễm toan.
- Thành phần natri metabisulfit, thường có trong phenylephrine hydroclorid dạng tiêm như một chất chống oxy hóa, có thể gây ra phản ứng dị ứng, đặc biệt là ở những bệnh nhân mắc bệnh hen suyễn.
- Cần hết sức thận trọng khi chỉ định thuốc này cho người cao tuổi, bệnh nhân cường giáp, nhịp tim chậm, blốc tim một phần, bệnh cơ tim, xơ cứng động mạch nghiêm trọng, hoặc đái tháo đường typ 1.
- Đối với dạng thuốc uống, cần thận trọng khi dùng cho bệnh nhân hen phế quản, tắc ruột, cường giáp, hoặc phì đại lành tính tuyến tiền liệt. Nếu xuất hiện các triệu chứng như kích thích, chóng mặt hoặc rối loạn giấc ngủ trong quá trình điều trị, bệnh nhân cần ngừng thuốc ngay lập tức và thông báo cho nhân viên y tế.
Lưu ý với phụ nữ có thai
- Hiện tại, chưa có đủ dữ liệu nghiên cứu để xác định liệu phenylephrine có thể đi qua hàng rào nhau thai hay không. Do đó, việc sử dụng thuốc này cho phụ nữ mang thai chỉ nên được cân nhắc khi lợi ích điều trị vượt trội so với các nguy cơ tiềm ẩn cho thai nhi.
Lưu ý với phụ nữ cho con bú
- Việc phenylephrine có bài tiết vào sữa mẹ hay không vẫn chưa được làm rõ. Vì lý do này, cần đặc biệt thận trọng khi dùng thuốc cho phụ nữ đang nuôi con bằng sữa mẹ. Trong trường hợp bắt buộc phải sử dụng phenylephrine dạng tiêm, khuyến cáo nên tạm ngừng cho con bú.
Lưu ý khi lái xe và vận hành máy móc
- Chưa có báo cáo nào về ảnh hưởng của thuốc đối với khả năng lái xe hoặc vận hành máy móc.
Quá liều và cách xử lý
Quá liều Phenylephrine và cách xử trí
Quá liều và độc tính
- Việc dùng phenylephrine vượt quá liều khuyến cáo có thể dẫn đến tăng huyết áp, đau đầu, các cơn co giật, xuất huyết trong não, cảm giác đánh trống ngực, ngoại tâm thu và dị cảm.
- Nhịp tim chậm thường là một biểu hiện sớm của tình trạng quá liều.
- Trong trường hợp điều trị nhịp nhanh kịch phát trên thất bằng cách tiêm tĩnh mạch nhanh, nếu liều dùng vượt quá mức cho phép, bệnh nhân có thể gặp các cơn nhịp nhanh thất ngắn hoặc ngoại tâm thu thất.
Xử trí khi quá liều
- Tình trạng tăng huyết áp có thể được kiểm soát bằng cách sử dụng thuốc chẹn α-adrenergic, chẳng hạn như phentolamin, với liều 5 – 10 mg tiêm tĩnh mạch; liều này có thể được lặp lại nếu cần thiết.
- Thẩm tách máu thường không mang lại hiệu quả trong trường hợp này.
- Việc điều trị triệu chứng và các biện pháp hỗ trợ tổng thể, cùng với sự chăm sóc y tế, là rất quan trọng.
Quên liều và xử trí
- Vì dạng thuốc tiêm chỉ được sử dụng trong các trường hợp khẩn cấp và bởi nhân viên y tế, khả năng quên liều là rất thấp.
- Đối với các dạng thuốc uống và dùng tại chỗ, nếu bệnh nhân bỏ lỡ một liều, cần uống/dùng ngay khi nhớ ra.
- Tuy nhiên, nếu thời điểm đó đã gần với liều kế tiếp, bệnh nhân nên bỏ qua liều đã quên và tiếp tục dùng liều tiếp theo theo đúng lịch trình đã định.
- Tuyệt đối không được uống/dùng gấp đôi liều quy định để bù cho liều đã quên.
Nguồn tham khảo
Tên thuốc: Phenylephrine
Drugs.com: https://www.drugs.com/pro/phenylephrinee-hydrochloride-injection.html
EMC: https://www.medicines.org.uk/emc/product/6773/smpc
Dược thư Quốc gia Việt Nam 2015
Ngày cập nhật: 17/07/2021

