Sơn hạch đào là dược liệu quý với đặc tính ngọt thơm, chứa nhiều dinh dưỡng và có khả năng hỗ trợ sức khỏe. Bài viết sẽ giới thiệu về đặc điểm, công dụng và cách dùng Sơn hạch đào để giúp bạn hiểu rõ hơn về loại dược liệu này.
Tìm hiểu chung về Sơn hạch đào
Tên gọi, danh pháp
- Tên Việt: Sơn hạch đào.
- Tên gọi thay thế: Hạch đào; dã tất thụ; tiêu hạch đào; sơn miết.
- Danh pháp khoa học: Carya cathayensis Sarg. Thuộc họ Hồ đào (Juglandaceae).
Đặc điểm tự nhiên
- Cây Sơn hạch đào là loài thân gỗ to lớn, có khả năng đạt chiều cao lên đến 20m khi phát triển trong tự nhiên.
- Lá kép dài 16 – 30cm mọc xen kẽ nhau trên thân; cuống chính dài 4 – 9cm, mang lông. Mỗi lá kép gồm 5 – 9 lá đơn. Lá đơn có hình mũi mác hoặc trứng, kích thước khoảng 2 – 5cm, bề mặt ngoài phủ nhiều vảy nhạt vàng, phần lớn có màu sáng, ngoại trừ lông dọc theo tĩnh mạch chính và ở nách các tĩnh mạch phụ trên mặt ngoài.
- Hoa đơn tính, hoa đực và hoa cái cùng trên một cây, trong đó hoa đực có 3 sợi liên kết thành 1 chùm. Cụm hoa khi còn cuộn được phủ bởi lông tuyến. Chiều dài cụm hoa có thể đạt 15cm và các cành của cụm hoa dài khoảng 1 – 2cm.
- Quả Sơn hạch đào có hình trứng, ở giai đoạn non thể hiện 4 cạnh dọc dạng cánh. Vỏ quả bên ngoài khô, dày, các cạnh dọc mở ra thành 4 cánh. Quả dài 2 – 2,5cm với đường kính khoảng 1,5 – 2cm.
Sinh sản
- Cây mọc lá từ tháng 6 đến tháng 10, ra hoa từ tháng 4 đến tháng 5, và quả chín từ tháng 9 đến tháng 10. Loài này là đơn tính cùng gốc (hoa riêng lẻ hoặc chỉ hoa đực hoặc chỉ hoa cái, tuy nhiên cả hai giới tính có thể tìm thấy trên cùng một cây) và được thụ phấn bởi gió. Cây sở hữu khả năng tự sinh sản.
Phát triển
- Thích nghi với: Đất nhẹ (cát), đất trung bình (mùn) và đất nặng (sét).
- Phạm vi pH thích hợp: Đất chua nhẹ, trung tính và bazơ (kiềm nhẹ). Cây không thể sinh trưởng trong điều kiện bóng tối, ưa thích môi trường đất ẩm.
Phân bố, thu hái, chế biến
- Được canh tác từ xưa như một loài cây lấy hạt tại vùng quê hương Trung Quốc, Sơn hạch đào không được giới khoa học phương Tây công nhận cho tới thế kỷ 20, và quá trình mở rộng trồng trọt của nó gặp nhiều khó khăn. Như một loài thực vật hoang dã, ở Trung Quốc tồn tại tại các tỉnh An Huy, Triết Giang, Giang Tây.
- Chưa thấy phân bố rộng rãi tại Việt Nam, hiện tại vẫn cần nhập khẩu từ nước ngoài.
- Sinh sống trong rừng trên sườn dốc núi, thung lũng và lòng sông, ở độ cao 400 – 1500m.
Bộ phận sử dụng
- Vỏ rễ, vỏ quả và nhân hạt đều được khai thác để chế biến các sản phẩm dược liệu.
Thành phần hóa học
- Sơn hạch đào được xem là dược liệu quý hiếm, nổi bật vì đặc tính ngọt thơm và hàm lượng dinh dưỡng phong phú.
Quả hạch
- Quả hạch là một loại hạt khô, có cấu trúc gồm lớp vỏ cứng không thể ăn được bao bọc bên ngoài và phần hạt ăn được bên trong. Như đã được công nhận rộng rãi, các loại hạt nói chung đều chứa dồi dào các yếu tố dinh dưỡng thiết yếu, chẳng hạn như: lipid với hàm lượng cao, amino acid và protein phong phú, cùng với nhiều chất khoáng quan trọng.
- Nhóm axit béo không bão hòa thường gặp trong hạch bao gồm axit oleic, axit linoleic, axit linolenic. Như công nhân y khoa đã ghi nhận, phần lớn các loại hạt đều tích tụ dầu ở mức độ đáng kể, một số loài thậm chí đạt tới 70% – 80% (tính theo khối lượng toàn bộ hạt).
- Dầu nhân của Carya cathayensis Sarg chứa 63% lipid, 9,1% protein, 3,6% tinh bột và 4,6% protein hòa tan (theo tỷ lệ khối lượng). Thành phần axit béo trong dầu nhân có độ tương đồng cao với dầu ô liu, và tổng lượng axit béo không bão hòa chiếm 94%.
- Dầu hạt của Carya cathayensis Sarg cũng tích tụ các hợp chất polyphenol đa dạng như axit vanillic, axit ferulic, axit 3-metoxybenzoic và quercetin. Nồng độ polyphenol tổng cộng đạt 9,7 μg/g. Ngoài ra, hạt nhân dầu của Sơn hạch đào còn chứa lượng vừa phải squalene, β-Sitosterol, Vitamin E.
Vỏ Sơn hạch đào
- Các nhà nghiên cứu gồm Jiang và cộng sự đã tiến hành phân tích (H2) Thành phần hóa học trong vỏ Sơn hạch đào, xác định được sự hiện diện của nhiều hoạt chất dược lý như axit amin, polysaccharide, flavonoid, saponin, tinh dầu bay hơi, alkaloid.
Công dụng của Sơn hạch đào
Theo y học cổ truyền
Tính vị, quy kinh
- Trong y học cổ truyền, nhân hạch được ghi nhận có vị ngọt và tính ôn.
Công năng, chủ trị
- Sơn hạch đào phát huy tác dụng tư nhuận bổ dưỡng toàn thể cơ thể. Vỏ gốc rễ và vỏ quả chứa các thành phần có khả năng sát trùng và ức chế các triệu chứng ngứa. Dược liệu được sử dụng trong lâm sàng để xử trí các trường hợp đau lưng, bệnh cước kéo dài khó khỏi, cũng như các bệnh lý nấm ngoài da.
Theo y học hiện đại
- Sơn hạch đào tích tụ nồng độ cao các axit béo không bão hòa đơn và không bão hòa đa, những thành phần này mang lợi ích đáng kể cho hệ tim mạch. Nhóm axit béo không bão hòa này thể hiện khả năng hạ lipid huyết tương, tối ưu hóa lưu thông máu, ngăn chặn sự kết tập của tiểu cầu, bảo vệ tế bào khỏi tổn thương oxy hóa, và giảm thiểu quá trình xơ vữa động mạch. Đáng chú ý, các axit béo không bão hòa này còn đóng vai trò tiền chất trong tổng hợp DHA, EPA và AA. Trong đó, DHA được các chuyên gia đánh giá có khả năng nâng cao chức năng ghi nhớ ở trẻ em và cải thiện hiệu suất học tập.
Chống oxy hóa
- Các công trình nghiên cứu về hoạt tính chống oxy hóa đã chứng thực rằng toàn bộ các phân đoạn chiết xuất ethanol từ Sơn hạch đào sở hữu khả năng trung hòa gốc tự do, trong đó phần MEF – CSEE 40% thể hiện hiệu lực chống oxy hóa ưu việt nhất.
- Các hợp chất flavonoid cùng với các thành phần phenolic được xác định là những tác nhân chính chịu trách nhiệm cho hoạt động chống oxy hóa, và có mối liên hệ trực tiếp giữa hàm lượng flavonoid, phenolic với mức độ hoạt tính chống oxy hóa.
- Vỏ ngoài của Sơn hạch đào được coi là một nguồn tài nguyên chưa được khai thác đầy đủ, có tiềm năng trở thành một nguồn thực vật quý giá cung cấp các chất chống oxy hóa tự nhiên.
Xơ vữa động mạch
- Xơ vữa động mạch được công nhận là một trong những nguyên nhân tử vong hàng đầu ở các quốc gia phương Tây cũng như ở Trung Quốc trong giai đoạn gần đây.
- Trong những năm gần đây, cộng đồng nghiên cứu đã tập trung vào việc làm sáng tỏ vai trò của các phản ứng viêm trong cơ chế bệnh sinh của xơ vữa động mạch. Theo các công trình khoa học, xơ vữa động mạch là một quá trình viêm mãn tính được đặc trưng bởi sự hình thành các mảng bao gồm tế bào miễn dịch, tế bào nội mô mạch máu (EC), tế bào cơ trơn (SMC), tiểu cầu, nền tảng ngoại bào, và một nhân giàu lipid bị hoại tử cùng sự xơ hóa lan rộng của mô xung quanh. Bạch cầu đơn nhân, cụ thể là đại thực bào M1, tiết ra nhiều loại cytokine, chemokine và các gốc oxy hóa phản ứng, được phân loại là tế bào tiền viêm. Chiến lược ức chế viêm được đánh giá là một phương pháp điều trị hứa hẹn để ngăn ngừa xơ vữa động mạch.
- Các nghiên cứu gần đây đã chỉ ra rằng flavonoid được tách chiết từ lá Sơn hạch đào (LCC) có khả năng ức chế các phản ứng viêm của bạch cầu đơn nhân / đại thực bào thông qua con đường tín hiệu NF – kB. Những phát hiện này cho phép suy luận rằng flavonoid từ lá Sơn hạch đào mang lại tác dụng bảo vệ chống lại giai đoạn sớm của xơ vữa động mạch.
- Trong một mô hình in vivo được xây dựng trên chuột với phương pháp thắt một phần động mạch cảnh, tác dụng của flavonoid đã được đánh giá bằng các phương pháp hình thái học và hóa mô miễn dịch. Kết quả hóa mô miễn dịch chứng tỏ rằng nhóm chuột nhận điều trị flavonoid thể hiện sự tích tụ đại thực bào thấp hơn, từ đó ức chế sự hình thành các tổn thương xơ vữa động mạch ở giai đoạn sơ kỳ.
Liều dùng và cách dùng Sơn hạch đào
Liều dùng
- Nhân hạt Sơn hạch đào được áp dụng với liều lượng từ 6 – 9 g trong các bài thuốc. Đối với vỏ gốc rễ và vỏ quả khi sử dụng, liều lượng cần được điều chỉnh phù hợp tùy theo mục đích trị liệu cụ thể.
Cách dùng
- Nhờ giá trị dinh dưỡng cao và hương vị dễ chấp nhận, Sơn hạch đào được ứng dụng rộng rãi như thực phẩm bổ dưỡng trong chế độ ăn hàng ngày, có thể kết hợp vào các sản phẩm như sô cô la, kem, bánh kẹo và các thực phẩm nhẹ khác.
- Do hàm lượng lipid dồi dào, nhân hạt loại này là nguyên liệu thích hợp để sản xuất các loại dầu ăn uống được, tương tự như dầu ô liu, dầu dừa, dầu đậu phộng và dầu cọ.
Bài thuốc kinh nghiệm
Bài thuốc kinh nghiệm điều trị đau lưng
- Chuẩn bị lượng nhân hạt Sơn hạch đào vừa đủ, thực hiện rang qua trên lửa, sau đó uống kèm theo hoàng tửu.
Bài thuốc kinh nghiệm điều trị bệnh cước
- Lấy vỏ gốc rễ tươi của Sơn hạch đào, tiến hành rửa sạch kỹ lưỡng rồi sử dụng nước đun từ vỏ này để rửa vùng bị bệnh.
Đối với trị nấm ngoài da
- Lấy vỏ quả với lượng thích hợp, giã nát để lấy dịch, sau đó dùng dịch này đắp trực tiếp lên các vùng da bị nhiễm nấm.
Lưu ý khi dùng Sơn hạch đào
- Trong quá trình sử dụng Sơn hạch đào để điều trị bệnh, bệnh nhân cần tránh tự quyết định ngừng sử dụng các loại thuốc tây y mà không có chỉ dẫn từ người chuyên môn. Bất kỳ quyết định thay đổi hoặc dừng điều trị bằng thuốc tây y đều phải được thực hiện dưới sự tư vấn và chấp thuận của bác sĩ chuyên khoa có liên quan.
Nguồn tham khảo
https://www.researchgate.net/publication/329243108_Physicochemical_Properties_and_Nutritional_Ingredients_of_Kernel_Oil_of_Carya_cathayensis_Sarg
https://www.researchgate.net/publication/329243108_Physicochemical_Properties_and_Nutritional_Ingredients_of_Kernel_Oil_of_Carya_cathayensis_Sarg
https://www.researchgate.net/publication/290823708_Antioxidant_Activities_of_The_Extracts_of_Carya_cathayensis_Sarg
https://www.scirp.org/journal/paperinformation.aspx?paperid=88858
https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/28755577/

