11
Ngoi là cây thuốc quý có vị đắng cay, tính ấm, được sử dụng để chữa lao hạch, viêm mủ da, loét và các vấn đề khác. Với thành phần hóa học như solanin, saponozit và tinh dầu, ngoi có tác dụng sát trùng, ức chế dương khí, chỉ huyết và giảm đau. Bài viết sẽ cung cấp thông tin về công dụng, cách dùng và lưu ý khi sử dụng ngoi.
Tìm hiểu chung về Ngoi
Tên gọi, danh pháp
- Tên tiếng Việt: Cây cà hôi; cà lông; cây la rừng; chìa bôi; la rừng; phô hức (theo gọi của dân tộc Thổ, Tày); sang mou (theo gọi ở Luang prabang – Lào); co sà lang (theo gọi của dân tộc Thái); toong muốc.
- Danh pháp khoa học: Solanum verbascifolium L., thuộc họ Cà (Solanaceae).
- Danh pháp đồng nghĩa: Solanum pubescens Roxb, Solanum eranthum Don.
Đặc điểm tự nhiên
- Ngoi là loài cây gỗ nhỏ đến trung bình, thường đạt chiều cao từ 2,5 đến 5 m. Toàn bộ thân lá được phủ một lớp lông sao dày đặc có màu vàng nhạt hoặc vàng xám. Lá mọc cách trên thân, có hình xoan thuôn đặc trưng, hai đầu nhọn, mép lá nguyên vẹn, cả hai mặt đều có lông mịn với mật độ dày hơn ở mặt dưới; cuống lá hình trụ dài 2 – 5 cm. Kích thước lá: chiều dài 12 – 20 cm, chiều rộng 6 – 11 cm.
- Cụm hoa sắp xếp theo dạng xim lưỡng phân hoặc xim ngù. Hoa có hình chén, bề mặt phủ đầy lông mềm, tràng hoa màu vàng nhạt với đường kính 0,5 – 1,3 cm, gồm 6 cánh hoa hình mũi mác sắc nhọn.
- Khi vò lá cây, mùi thơm phảng phất có hương thơm tương tự hồng bì.
- Thời gian ra hoa: tháng 3 – tháng 6. Thời gian kết quả: tháng 7 – tháng 10.
Phân bố, thu hái, chế biến
- Tại Việt Nam, cây mọc hoang dã khắp các tỉnh miền bắc như Hà Giang (chủ yếu là loài ngoi rừng), Hòa Bình, Cao Bằng, Lạng Sơn, và thậm chí cả tại Hà Nội. Ngoi là loài thích nghi tốt ở những nơi có ánh sáng trực tiếp dồi dào.
- Lá ngoi được thu hái ở trạng thái tươi xanh và sử dụng dần theo nhu cầu. Bên cạnh đó, rễ cây được khai thác quanh năm, sau đó được thái thành lát mỏng rồi phơi hoặc sấy khô. Có trường hợp toàn bộ thân cây cũng được xử lý tương tự. Nhân giống cây thường thực hiện bằng hạt giống vào mùa xuân.
- Ở nước ngoài, ngoi phân bố rộng rãi ở châu Á, châu Đại Dương và châu Mỹ, với những vùng phân bố chính ở Ấn Độ, Nam và Tây Nam Trung Quốc.
Xem thêm: Gia Vị Tiêu Dao Tán (Đan Chi Tiêu Dao Tán): Biến Thể Hoàn Hảo Cho Phụ Nữ Can Uất, Huyết Hư
Bộ phận sử dụng
- Phần được sử dụng làm thuốc bao gồm rễ, lá hoặc thân cây của loài này.
Thành phần hóa học
- Cây ngoi chứa nhiều thành phần hoạt tính bao gồm solanin, saponozit và một lượng nhỏ tinh dầu. Vỏ rễ được ghi nhận chứa solasodin với hàm lượng khoảng 0,3%. Trong bộ phận lá cây còn tồn tại tinh dầu; các (H2) Thành phần hóa học khác chưa được xác định rõ ràng qua các nghiên cứu hiện tại.
Công dụng của Ngoi
Theo y học cổ truyền
- Trong y học cổ truyền, ngoi được ghi nhận có vị đắng cay, tính ấm, tính độc; phổ tác dụng bao gồm thanh nhiệt tiêu thũng, sát trùng, ức chế dương khí, chỉ huyết, thông hành khí giảm đau, kích thích sinh cơ và thu liễm vết thương.
Theo y học hiện đại
- Các công trình khảo sát dược lý đã ghi nhận ngoi sở hữu các hoạt tính dược học sau:
- Khả năng điều trị viêm mủ da, loét, vết cắt, xước, lòi dom, hắc lào, lao hạch, sán trâu bò thông qua tác dụng diệt khuẩn và ức chế viêm.
- Tác dụng cải thiện tiểu tiện đục và phụ nữ khí hư liên quan đến bàng quang và đạo tiểu.
- Tác dụng giảm nhức đầu: Tại Malaysia, thực hành lâm sàng dân gian cho thấy lá tươi được giã nát rồi chườm lên vùng thái dương có hiệu quả.
- Tác dụng hỗ trợ trong cảm cúm và viêm mũi: Trong thú y, lá được cắt nhỏ đưa vào lỗ mũi ngựa để điều trị tình trạng sổ mũi ở động vật.
- Theo kinh nghiệm dân gian Malaisia, nước sắc từ rễ được sử dụng để làm dịu những cơn đau cấp tính và rối loạn tiêu hóa sau ăn.
- Tác dụng hỗ trợ điều trị đau lưng, gãy xương, chấn thương ngoài, phong thấp tê đau và chấn thương do ngã.
Liều dùng và cách dùng Ngoi
- Ở Ấn Độ, bột khô từ cây ngoi được pha với nước thành hỗn hợp sánh và áp dụng trực tiếp lên vết thương để điều trị viêm hoặc bỏng do lửa.
- Ở Malaysia, toàn cây ngoi được nấu nước để phụ nữ tắm sau khi sinh con, nhằm phục hồi sức khỏe.
Bài thuốc kinh nghiệm
Đắp lòi dom:
- Lá tươi được bỏ cuống và gân, sau đó giã nát rồi nấu nóng trước khi đắp vào vị trí lòi dom đã được rửa sạch bằng nước ấm. Có thể giữ nguyên hình dạng lá rồi úp lên vị trí, hoặc nướng cháy lá rồi tán và đưa vào hậu môn. Tối là thời điểm tối ưu để thực hiện nhằm hạn chế hoạt động, giảm tác động cơ học. Bệnh nhân lòi dom thường hồi phục nhanh chóng, khôi phục khả năng hoạt động bình thường, và trong vòng 2 – 3 năm không ghi nhận tái phát. Một số trường hợp dom lòi 4 đến 5 cm cũng đã được điều trị thành công.
Chữa hắc lào:
- Lá ngoi tươi được vò để lấy nước, sau đó thấm vào vết hắc lào sau khi đã làm sạch bằng nước.
Bệnh bạch cầu hạt mạn tính (ở Trung Quốc):
- Ngoi 10 – 15 g, nấu sôi và chia thành 3 lần uống.
Chữa tràng nhạc:
- Lá hoặc quả Ngoi 20 g được giã nát kết hợp với lá dâm bụt 15 g, vỏ rễ hoặc vỏ thân cây gạo 20 g, đun với nước vo gạo đặc đến khi đạt độ sền sệt thích hợp rồi áp dụng và băng cố định.
Lưu ý khi dùng Ngoi
- Hiện tại không có thông tin chống chỉ định hoặc cảnh báo sử dụng được ghi nhận.
Nguồn tham khảo
Từ điển cây thuốc Việt nam – Võ Văn Chi.
Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi.
Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam (Tập 2).
Bài viết này có hữu ích không?
Có0Không0

