13
Methoxsalen là một loại thuốc thuộc nhóm Psoralen, được sử dụng để điều trị các bệnh lý về da như bạch biến và vẩy nến. Methoxsalen hoạt động bằng cách tăng cường phản ứng của da với tia tử ngoại sóng dài, giúp kiểm soát các triệu chứng của bệnh. Với các dạng bào chế khác nhau, Methoxsalen có thể được sử dụng đường uống hoặc bôi tại chỗ, và được chỉ định cho các trường hợp bệnh lý cụ thể.
Tổng quan về Methoxsalen
Tên thuốc gốc (Hoạt chất)
- Methoxsalen
Loại thuốc
- Psoralen
Dạng thuốc và hàm lượng
- Viên nang hoặc viên nang mềm: 10 mg.
- Dung dịch dùng tại chỗ chứa: 1% (với 71% Aceton và Propylene glycol).
Chỉ định Methoxsalen
- Việc sử dụng Methoxsalen được khuyến nghị trong các trường hợp bệnh lý sau:
- Kiểm soát bệnh bạch biến tự phát ở mức độ nghiêm trọng.
- Xử lý bệnh vẩy nến khi đã kháng hoặc không có phản ứng với các phương pháp điều trị tại chỗ thông thường.
Dược lực học
- Methoxsalen có nguồn gốc từ hạt của cây Ammi majus và rễ cây Heracleum candicans. Đây là một tác nhân gây nhạy cảm với ánh sáng, giúp tăng cường đáng kể phản ứng của da với tia tử ngoại sóng dài (320 – 400 nm), được ứng dụng trong liệu pháp hóa trị liệu ánh sáng.
- Khi có mặt tia UVA, Methoxsalen liên kết với DNA, từ đó ngăn chặn quá trình tổng hợp DNA và sự phân chia tế bào, dẫn đến tổn thương tế bào.
- Tuy nhiên, các tế bào bị ảnh hưởng có khả năng phục hồi thông qua quá trình melanin hóa tế bào biểu mô và sự tăng độ dày của lớp sừng.
- Ngoài ra, Methoxsalen còn có thể thúc đẩy sự gia tăng sắc tố nhờ tác động lên các tế bào melanin.
Dược động học
Hấp thu
- Khi dùng qua đường uống, Methoxsalen được hấp thu hiệu quả, mặc dù mức độ hấp thu có sự biến thiên đáng kể giữa từng bệnh nhân, dẫn đến nồng độ đỉnh trong huyết tương đạt được cũng khác nhau.
- Hiệu ứng nhạy cảm với ánh sáng bắt đầu xuất hiện khoảng 1 giờ sau khi uống thuốc, đạt mức tối đa trong khoảng 1 đến 4 giờ, và kéo dài tổng cộng khoảng 8 giờ, tùy thuộc vào dạng bào chế được sử dụng.
Phân bố
- Thuốc có ái lực liên kết cao với protein.
- Mặc dù Methoxsalen tác động chủ yếu lên các tế bào biểu mô, nó cũng có khả năng đi vào thủy tinh thể của mắt.
Chuyển hóa
- Quá trình chuyển hóa của Methoxsalen diễn ra gần như hoàn toàn tại gan, tạo ra các chất chuyển hóa.
Thải trừ
- Trong vòng 24 giờ, khoảng 95% liều Methoxsalen được bài tiết qua nước tiểu.
- Đối với dạng bôi ngoài da, hiệu ứng tăng nhạy cảm với ánh sáng của Methoxsalen có thể duy trì trong vài ngày.
- Tình trạng ban đỏ trên da do Methoxsalen, dù dùng đường uống hay bôi tại chỗ, thường có biểu hiện chậm, với mức độ rõ rệt nhất thường thấy sau 2 đến 3 ngày kể từ khi dùng thuốc.
Tương tác thuốc Methoxsalen
Tương tác Methoxsalen với các thuốc khác
- Cần thận trọng khi sử dụng Methoxsalen đồng thời với các loại thuốc khác đã biết gây tăng nhạy cảm với ánh sáng.
- Thuốc này ức chế enzym cytochrom P450 loại CYP2A6, có khả năng làm tăng nồng độ trong huyết tương của các loại thuốc cũng được chuyển hóa bởi enzym này.
- Phenytoin, một chất gây cảm ứng enzym chuyển hóa thuốc, có thể làm giảm nồng độ Methoxsalen trong huyết tương, dẫn đến việc giảm hiệu quả của liệu pháp PUVA.
- Một số sản phẩm làm mềm hoặc làm dịu da có thể có tác dụng bảo vệ da khỏi ánh nắng; do đó, nếu được dùng ngay trước khi chiếu tia UVA, chúng có thể ảnh hưởng đến hiệu quả của liệu pháp PUVA.
- Methoxsalen có thể ức chế CYP1A2, từ đó có thể làm tăng nồng độ trong huyết thanh của các thuốc như: Theophylin, Agomelatine, Alosetron, Bendamustine, Bromazepam, Caffeine và các sản phẩm chứa Caffeine, Clomipramine, Clozapine, Duloxetine, Melatonin, Olanzapine, Pentoxifylline, Pirfenidone, Pomalidomide.
Tương tác với thực phẩm
- Một số loại thực phẩm như cần tây và mùi tây cũng chứa psoralen; nếu tiêu thụ với số lượng lớn, chúng có thể làm tăng nguy cơ độc tính với ánh sáng của Methoxsalen.
- Nồng độ Methoxsalen trong huyết thanh có thể tăng lên khi dùng thuốc cùng với thức ăn.
- Tình trạng buồn nôn có thể xuất hiện trong quá trình dùng thuốc.
- Để khắc phục, bệnh nhân nên uống viên nang cùng với thức ăn hoặc sữa.
- Cần tránh các loại thực phẩm có chứa furocoumarin như chanh, sung, mùi tây, cần tây, đinh hương, chanh tây, mù tạt và cà rốt.
Chống chỉ định thuốc Methoxsalen
- Methoxsalen không được sử dụng trong các tình huống lâm sàng sau:
- Rối loạn chuyển hóa porphyrin.
- Tình trạng thiếu thể thủy tinh (aphakia).
- Sự hiện diện của u melanin hoặc tiền sử mắc phải u melanin.
- Ung thư biểu mô tế bào vẩy thể thâm nhiễm.
Liều lượng & cách dùng Methoxsalen
Người lớn
Bạch biến
- Đối với việc phục hồi sắc tố da trong điều trị bạch biến, Methoxsalen được dùng đường uống với liều 20 mg, hoặc lên đến 600 microgam/kg, và nên uống từ 2 đến 4 giờ trước khi tiến hành chiếu tia UVA (liều lượng và thời gian có thể thay đổi tùy theo chế phẩm cụ thể).
- Việc điều trị thường diễn ra 2 lần một tuần hoặc xen kẽ các ngày, tuy nhiên, cần đảm bảo khoảng thời gian tối thiểu giữa 2 lần điều trị là 48 giờ.
- Ngoài ra, Methoxsalen có thể được áp dụng tại chỗ nhằm tái tạo sắc tố cho các khu vực bạch biến nhỏ, đã được xác định rõ ràng.
- Thông thường, các chế phẩm chứa 1% Methoxsalen được sử dụng, nhưng việc pha loãng thành 0,1% hoặc 0,01% là cần thiết để giảm thiểu các phản ứng phụ trên da.
- Cần che chắn vùng da lành xung quanh bằng một lớp vật liệu chống nắng.
- Sau khi thoa thuốc, có thể thực hiện chiếu tia UVA ngay lập tức hoặc đợi tối đa 2 giờ.
- Tiếp theo quá trình chiếu tia UVA, vùng da được điều trị phải được bảo vệ khỏi ánh sáng trong ít nhất 48 giờ hoặc lâu hơn.
- Chu kỳ điều trị thường được lặp lại sau mỗi 1 tuần.
- Quá trình tái tạo sắc tố da có thể mất từ 6 đến 9 tháng điều trị mới có thể quan sát thấy rõ rệt.
Bệnh vẩy nến
- Trong điều trị bệnh vẩy nến, liều dùng có thể đạt tới 600 microgam/kg, uống từ 1,5 đến 3 giờ trước khi chiếu UVA (tùy thuộc vào loại chế phẩm).
- Liệu pháp có thể được lặp lại 2 lần một tuần hoặc thường xuyên hơn, nhưng khoảng cách giữa các lần dùng thuốc phải tối thiểu là 48 giờ.
- Trong trường hợp không có hoặc chỉ có phản ứng nhẹ sau lần thứ 15 của liệu pháp hóa trị liệu ánh sáng (PUVA – sự kết hợp giữa psoralen và tia UVA), có thể cần tăng liều lên 10 mg và duy trì mức này trong suốt phần còn lại của liệu trình.
- Methoxsalen cũng có thể được sử dụng kết hợp với tia UVA bằng đường bôi tại chỗ để điều trị bệnh vẩy nến.
- Bệnh nhân có thể thoa trực tiếp chế phẩm chứa 0,15% Methoxsalen (hoặc pha loãng xuống 0,015% nhằm giảm thiểu các tác dụng phụ trên da) lên vùng da bị tổn thương 15 phút trước khi chiếu tia UVA.
- Một phương pháp khác là ngâm toàn bộ cơ thể trong dung dịch tắm có chứa Methoxsalen trong 15 phút, sau đó chiếu tia UVA ngay lập tức.
- Theo khuyến nghị của Anh, nồng độ Methoxsalen tối ưu cho phương pháp này là 2,6 mg/lít, mặc dù liều cao hơn (3,7 mg/lít) cũng đã được áp dụng.
- Việc ngâm riêng biệt tay hoặc chân cũng là một phương pháp được sử dụng để điều trị các khu vực bị ảnh hưởng.
- Một dung dịch Methoxsalen với nồng độ 3 mg/lít có thể được dùng để ngâm các vùng da bệnh trong 15 phút, sau đó nghỉ 30 phút trước khi tiến hành chiếu tia.
- Các liệu pháp tắm hoặc ngâm thuốc này có thể thực hiện 2 lần một tuần.
- Liều lượng Methoxsalen thường được tính toán dựa trên trọng lượng cơ thể của bệnh nhân, dẫn đến sự khác biệt đáng kể giữa những người có cân nặng khác nhau.
- Một nghiên cứu đã đề xuất việc tính liều dựa trên diện tích bề mặt da, với 25 mg/m2, có thể giúp giảm nguy cơ bỏng cho bệnh nhân nặng cân và tránh tình trạng dùng dưới liều cho người nhẹ cân trong liệu pháp PUVA.
Tác dụng phụ của Methoxsalen
Thường gặp
- Các phản ứng thường gặp bao gồm ngứa và buồn nôn.
Không xác định tần suất
- Các triệu chứng đã được báo cáo nhưng không xác định được tần suất bao gồm: phù nề, hạ huyết áp (đặc biệt khi điện di), trầm cảm, chóng mặt, đau đầu, mất ngủ, khó chịu, căng thẳng, mụn nước, cảm giác nóng rát trên da, các bệnh lý da liễu (bao gồm lão hóa da sớm), ban đỏ, bong tróc da, viêm nang lông, tình trạng giảm sắc tố da, mụn thịt, vết phồng rộp gây đau đớn, nguy cơ ung thư da, phát ban da, đau nhức da, bọng nước, mày đay, nhiễm trùng (liên quan đến việc tiếp cận mạch máu trong quang điện hóa trị liệu), và đục thủy tinh thể.
Lưu ý khi dùng Methoxsalen
Lưu ý chung khi dùng Methoxsalen
- Không khuyến nghị sử dụng liệu pháp quang hóa PUVA (Psoralen kết hợp với tia UVA) cho bệnh nhi.
- Cần thận trọng khi chỉ định thuốc cho những người bệnh có chức năng gan bị suy giảm.
- Bệnh nhân cần tuyệt đối tránh phơi nắng trong khoảng 24 giờ trước và 48 giờ sau khi thực hiện liệu pháp PUVA.
- Việc tiếp xúc với ánh nắng mặt trời, dù là khi trời râm hay có đeo kính râm, cũng phải được hạn chế trong ít nhất 8 giờ sau khi dùng Methoxsalen đường uống.
- Đối với các chế phẩm bôi tại chỗ, thời gian nhạy cảm với ánh sáng kéo dài hơn, do đó vùng da đã điều trị cần được che chắn khỏi ánh sáng tối thiểu từ 12 đến 48 giờ, thậm chí có thể lên đến 1 tuần.
- Trừ khi có chỉ định điều trị cụ thể, cần che chắn bộ phận sinh dục nam giới trong suốt quá trình trị liệu PUVA.
- Trước khi khởi đầu liệu pháp và định kỳ sau đó, bệnh nhân phải trải qua kiểm tra mắt cẩn thận, đặc biệt là những đối tượng có nguy cơ cao phát triển đục thủy tinh thể.
- Các cuộc kiểm tra da định kỳ cũng rất quan trọng để sớm phát hiện bất kỳ tổn thương da nào có dấu hiệu tiền ung thư hoặc ung thư.
- Trước khi bắt đầu điều trị, nên kiểm tra nồng độ kháng thể kháng nhân (ANA), đặc biệt nếu có biểu hiện của bệnh mô liên kết.
- Đối với những trường hợp vảy nến không biến chứng, có kết quả xét nghiệm ban đầu âm tính và không có dấu hiệu bệnh mô liên kết, việc đánh giá thường xuyên trong quá trình điều trị có thể không cần thiết.
- Nên sử dụng Methoxsalen một cách thận trọng khi bệnh nhân đang dùng các loại thuốc khác có khả năng làm tăng độ nhạy cảm của da với ánh sáng (tham khảo thêm trong mục tương tác thuốc).
Lưu ý với phụ nữ có thai
- Hiện chưa có nghiên cứu đầy đủ về ảnh hưởng của Methoxsalen lên khả năng sinh sản ở động vật.
- Mức độ gây hại của Methoxsalen đối với thai nhi, dù dùng đường uống hay bôi tại chỗ ở phụ nữ mang thai, vẫn chưa được xác định.
- Do đó, chỉ nên cân nhắc sử dụng Methoxsalen cho thai phụ khi lợi ích điều trị được đánh giá là vượt trội so với rủi ro tiềm ẩn và chỉ trong trường hợp thật sự cần thiết.
Lưu ý với phụ nữ cho con bú
- Hiện tại, vẫn chưa có thông tin rõ ràng về việc Methoxsalen có bài tiết vào sữa mẹ hay không.
- Vì vậy, cần hết sức thận trọng khi quyết định sử dụng thuốc này cho phụ nữ đang trong thời kỳ cho con bú.
Lưu ý khi lái xe và vận hành máy móc
- Hiện chưa có báo cáo nào về tác động của Methoxsalen đối với khả năng lái xe hoặc vận hành máy móc.
Quá liều và cách xử lý
Quên liều và xử trí
- Methoxsalen là thuốc chỉ định dùng trước khi bệnh nhân được chiếu tia UVA.
- Trong trường hợp bệnh nhân bỏ lỡ một liều đã định, cần thông báo ngay cho bác sĩ điều trị.
Quá liều và độc tính
- Việc dùng quá liều Methoxsalen, hoặc tiếp xúc với lượng tia UVA vượt mức cho phép sau khi sử dụng thuốc, có thể dẫn đến các tổn thương da nghiêm trọng như bỏng nặng hoặc hình thành mụn nước.
Cách xử lý khi quá liều
- Đối với trường hợp ngộ độc Methoxsalen cấp tính qua đường uống, việc gây nôn khẩn cấp để loại bỏ thuốc khỏi dạ dày được khuyến nghị, lý tưởng nhất là trong khoảng 2 – 3 giờ đầu sau khi nuốt phải.
- Sau đó, bệnh nhân cần được cách ly trong phòng tối ít nhất 24 giờ, hoặc cho đến khi các triệu chứng tổn thương da thuyên giảm. Đồng thời, cần áp dụng các phác đồ điều trị chuyên biệt dành cho bỏng.
Nguồn tham khảo
Tên thuốc: Methoxsalen
Medscape.com
Uptodate
Dược thư Quốc gia Việt Nam 2015
Ngày cập nhật: 21/06/2021
Bài viết này có hữu ích không?
Có0Không0

