Dưa leo là một loại dược liệu chứa nhiều nước, vitamin và khoáng chất, có tác dụng thanh nhiệt, giải phiền và thông lợi thủy đạo. Với công dụng lợi tiểu, giải nhiệt và trừ giun sán, dưa leo được sử dụng trong nhiều bài thuốc kinh nghiệm để trị các chứng bệnh như cổ họng sưng đau, chướng bụng, chân tay phù nề.
Tìm hiểu chung về Dưa leo
Tên gọi, danh pháp
- Tên Tiếng Việt: Dưa leo.
- Tên gọi khác: Dưa chuột.
- Danh pháp khoa học: Cucumis sativus L.
Đặc điểm tự nhiên
- Cây mọc bò sát mặt đất, toàn bộ thân lá được bao phủ lông mịn. Thân chính phát triển nhiều cành thứ có góc, tạo thành cấu trúc rễ nhánh phức tạp. Lá mang cuống rõ rệt, phiến lá chia thành 3 – 5 thùy với hình dáng gần tam giác, mép lá mọc các lông đứng đặc trưng. Hoa đơn tính, có màu vàng tươi, thường mọc 2 – 3 bông tập trung ở nách lá.
- Quả có hình thuôn dài, thường hình trụ hoặc hơi ba cạnh, bề mặt có thể nhẵn hoặc phủ các bướu nhỏ, kích thước quả trưởng thành dao động từ 10 – 36 cm. Vỏ quả màu xanh lục hoặc xanh lục nhạt, có thể chuyển sang sắc vàng nhạt, vàng đậm hoặc vàng nâu khi già. Hạt rất nhiều, hình trứng tròn, màu trắng, có tính chất dai, bề mặt bóng loáng. Thời kỳ nở hoa và cho quả kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10 hàng năm.
Phân bố, thu hái, chế biến
- Dưa leo là loài có nguồn gốc từ vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, hiện được canh tác rộng rãi trên khắp các vùng nước Việt Nam. Cây thể hiện khả năng thích nghi cao với nhiều điều kiện khí hậu khác nhau. Quá trình ra hoa của cây diễn ra chủ yếu vào mùa xuân – hạ.
- Hầu hết các giống dưa leo được nhân giống thông qua hạt và cần có quá trình thụ phấn hoàn chỉnh. Để đảm bảo kết quả thụ phấn tối ưu, hàng năm có hàng ngàn đàn ong mật được di chuyển đến các vùng trồng dưa leo ngay trước thời kỳ nở hoa. Ngoài ong mật, dưa leo cũng có thể được thụ phấn bởi ong vò vẽ và các loài ong hoang khác.
- Đa số các giống dưa leo hiện nay tự không tương thích, do vậy cần phấn từ cây khác để kích thích hình thành hạt và phát triển quả. Tuy nhiên, một số giống dưa leo đặc biệt là cây bán phần, những hoa của chúng có khả năng tạo quả không hạt mà không cần thụ phấn.
Bộ phận sử dụng
- Quả (Fructus Cucumis sativi), lá.
Thành phần hóa học
- Dưa leo chứa hàm lượng nước cực cao, chiếm 95 – 97% khối lượng tươi, kết hợp với 0,8% protein, 3% carbohydrate, 0,7% cellulose, và 0,5% tro. Trong phần tro, hàm lượng canxi đạt 23 mg%, phosphor 27 mg%, sắt 1 mg%. Ngoài các chất khoáng, dưa leo cung cấp vitamin A (dưới dạng caroten) với nồng độ 0,3 mg%, vitamin B1 ở mức 0,03 mg%, vitamin B2 với tỷ lệ 0,04 mg%, vitamin PP 0,1 mg% và vitamin C 5 mg%. Bên cạnh vitamin A và C, dưa leo còn tích lũy lượng đáng kể sắt, mangan, iod và thiamin, những hoạt chất hỗ trợ các quá trình chuyển hóa quan trọng.
- Một số giống dưa leo có mùi thơm nhẹ đặc trưng do chứa các aldehyde không bão hòa, cụ thể là (E, Z)-nona-2,6-dienal cùng các đồng phân cis và trans của 2-nonenal. Vị hơi đắng của vỏ dưa leo có nguồn gốc từ các hợp chất cucurbitacin và colocynthine. Hạt dưa leo chứa một alkaloid gọi là poxanthine, được biết đến vì khả năng kháng giun đặc trưng.
Công dụng của Dưa leo
Theo y học cổ truyền
- Quả dưa leo được ghi nhận trong y văn cổ truyền có tác dụng thanh nhiệt, giải phiền và thông lợi thủy đạo. Về khía cạnh dinh dưỡng, dưa leo là thực phẩm mát và có khả năng lợi tiểu. Quả được khai thác vừa làm thực phẩm vừa làm dược liệu trong những trường hợp sốt nhẹ, ngộ độc tiêu hóa kèm đau bụng, thống phong, tạng khớp, bệnh sởi và nhiễm khuẩn coli. Ngoài ra, dưa leo dùng ngoài da trị ngứa ngáy và nhiễm nấm da liễu. Rễ và lá cũng được khai thác để ức chế sưng đau và hỗ trợ giải độc.
- Theo các tài liệu y học cổ điển (Bản thảo cương mục Nam dược thần hiệu), dưa leo còn được gọi là hổ qua hay hoàng qua với những đặc tính sau:
– Quả dưa leo có vị ngọt, tính hàn hơi có độc, không nên dùng quá liều cao, sở hữu công năng thanh nhiệt, giải phiền, lợi thủy đạo (tiêu nước).
– Lá dưa leo vị đắng, tính bình, hơi có độc, khi giã nát vắt lấy nước uống vào có tác dụng nôn ra.
Theo y học hiện đại
- Tác dụng trừ giun sán: Hạt dưa leo sắc nước uống được sử dụng như một phương pháp trừ giun, sán.
- Tác dụng lợi tiểu, giải nhiệt: Lá dưa leo được ghi nhận có khả năng lợi tiểu và giải nhiệt.
Liều dùng và cách dùng Dưa leo
- Ứng dụng dưa leo trong mỹ phẩm và điều trị ngoài da: Cắt dưa leo thành những lát mỏng để敷 trên da mặt nhằm cải thiện những nếp nhăn da xù xì và những đốm tàn nhang. Tại nhiều địa phương, nhân dân sử dụng quả dưa leo non kết hợp với đường để chữa lỵ, sốt nhiệt và tiêu chảy.
- Lá dưa leo được giã nát vắt lấy nước để uống nhằm gây nôn tháo.
Bài thuốc kinh nghiệm
Trị cổ họng sưng đau
- Lựa chọn một quả dưa leo già, loại bỏ hoàn toàn hạt. Nhồi mang tiêu vào cho đầy khoảng trống của quả, trộn đều rồi phơi khô ở nơi mát mẻ. Ngậm từng miếng nhỏ.
Trị chướng bụng, chân tay phù nề
- Lấy một quả dưa leo già chín, loại bỏ hạt rồi thêm một ít dấm chua, nấu nhừ. Cho bệnh nhân ăn vào lúc bụng đói. Kết quả là tiểu lắc và phù nề biến mất.
Chữa nẻ môi
- Áp dụng miếng dưa leo tươi lên vùng môi bị nẻ.
Da bị mẩn đỏ
- Bôi nước ép dưa leo lên vùng bị mẩn đỏ nhiều lần trong ngày.
Chữa phỏng lửa, phồng da
- Ba quả dưa leo thu hái vào mùa hè đặt vào bình kín, để ngoài hiên. Khi bị bỏng, lấy nước trong bình dưa leo bôi lên vùng bị tổn thương.
Chữa hội chứng lỵ nhiệt ở trẻ em
- Sử dụng 10 quả dưa leo non, nấu cùng mật ong cho trẻ ăn dần, trong vòng 1-2 ngày thì bệnh khỏi.
Chữa ngộ độc
- Lá dưa leo giã vắt lấy nước cốt uống để gây nôn tháo độc.
Lưu ý khi dùng Dưa leo
- Dưa leo ăn sống gây khó tiêu hóa, đặc biệt những người có dạ dày mẩn cảm sẽ gặp khó khăn chấp nhận.
- Do dưa leo có tác dụng lợi tiểu mạnh, không nên tiêu thụ quá liều. Những người có thể trạng lạnh da và thận yếu cần tuyệt đối kiêng dùng.
Nguồn tham khảo
Tracuuduoclieu.vn: https://tracuuduoclieu.vn/cucumis-sativus-l.html
Sách những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam _ Đỗ Tất Lợi.
Tra cứu cây thuốc: http://uphcm.edu.vn/caythuoc/index.php?q=node/252
Wikipedia.org: https://en.wikipedia.org/wiki/Cucumber

