9
Mủ trôm là một loại dược liệu có nguồn gốc từ cây trôm, với công dụng chủ yếu là nhuận tràng, lợi tiện và giải khát. Theo y học hiện đại, mủ trôm còn có tác dụng ức chế sự phát triển của vi sinh vật gây bệnh và giảm các phản ứng viêm. Bài viết sẽ cung cấp thông tin chi tiết về công dụng, cách pha chế và lưu ý khi sử dụng mủ trôm, giúp người đọc hiểu rõ hơn về loại dược liệu này.
Tìm hiểu chung về Mủ trôm
Tên gọi, danh pháp
- Tên Việt: Nhựa trôm; Tuyết Yến; Trôm hôi; Chim rừng; Cây quả mõ; May trôm (Tày).
- Danh pháp khoa học: Sterculia foetida L. thuộc họ Trôm – Sterculiaceae.
- Tên quốc tế: Poon tree, wild almond, Java olive, bottle – tree (Anh); arbre puant, bois de merde, sterculie fetide (Pháp).
Đặc điểm tự nhiên
- Trôm là loài cây gỗ có kích thước lớn, thân thẳng hình trụ, cành phát triển mạnh mẽ với các vết sẹo lá hình trái tim đặc trưng. Chiều cao của cây trưởng thành có thể đạt 25 đến 30 m.
- Lá kép chân vịt được cấu tạo từ 5 đến 9 lá chét có cuống riêng, không mọc lông, dài tối đa 30 cm, phát tỏa mùi hôi đặc trưng. Lá mọc so le trên thân, có cuống dài, hình dạng mác, mặt trên màu nhạt hơn, mặt dưới có sắc lục xám. Lá kèm dễ rụng tự nhiên.
- Cụm hoa xuất hiện ở phần ngọn gồm các chùm hẹp nhẵn, dài 15 đến 20 cm. Hoa có màu đỏ với mùi rất thối nặng, đài hình ống có lông, không có cánh hoa. Hoa đực có cuống riêng, bộ nhị bung nở thành hình chén ở đầu, chứa 15 đến 20 túi phấn. Cuống nhụy mang 5 lá noãn, mỗi lá noãn chứa 8 đến 15 noãn.
- Quả gồm 1 đến 5 quả đại choãi ra, dài 9 cm, vách dày, màu đỏ, nhẵn có lông. Khi quả nở, mỗi đại có hình dáng giống cái mõ. Hạt số lượng 10 đến 15, màu đen bóng, dài 18 đến 20 mm.
- Mủ trôm ra hoa từ tháng 2 đến tháng 4. Chu kỳ kết quả kéo dài từ tháng 5 đến tháng 9.
Phân bố, thu hái, chế biến
- Chi Sterculia L. có 25 loài ở Việt Nam, phần lớn là cây thân gỗ hoặc cây bụi. Loài trôm được xếp vào nhóm cây gỗ cổ nhiệt đới, phân bố khá rộng rãi từ vùng Nam Trung Quốc trở xuống. Tại Việt Nam, trôm mọc rải rác trong rừng lá rộng thường xanh, rừng thứ sinh, rừng còi ở bình nguyên, trên núi đất hay núi đá. Cây cũng được trồng quanh làng bản và bờ hồ để tạo bóng mát. Mủ trôm phân bố tập trung ở các tỉnh Gia Lai, Khánh Hòa, Bà Rịa – Vũng Tàu, Kiên Giang. Ngoài ra, cây còn được ghi nhận ở Ấn Độ, Campuchia, Thái Lan, Malaixia, Philippin, Ôxtraylia và các nước châu Phi.
- Trôm rụng lá theo chu kỳ hàng năm vào mùa đông. Từ tháng 2 đến tháng 3, các chồi ngủ mọc lên lá non, đồng thời cây bắt đầu khoá hoa. Quả trôm chứa nhiều hạt và chín vào cuối mùa thu. Khi chín, quả khô tự nở để hạt rơi ra. Cây con phát triển từ hạt thường được quan sát vào cuối mùa xuân hoặc mùa hè.
Bộ phận sử dụng
- Bộ phận dùng thuốc của cây bao gồm hạt, lá và vỏ cây, được thu hái quanh năm, thường sử dụng ở dạng tươi. Dầu từ hạt và nhựa mủ cũng được ứng dụng trong thực hành. Hạt được thu từ những quả chín vào tháng 12 và tháng 1, dùng để chiết xuất dầu.
- Dịch nhựa tiết ra từ vỏ thân cây trôm được gọi là mủ trôm. Để phân biệt mủ trôm nguyên chất hay không, người ta dựa vào đặc điểm màu sắc. Mủ trôm nguyên chất sẽ hiển thị màu trắng trong suốt.
Thành phần hóa học
- Thành phần hóa học của hạt trôm bao gồm độ ẩm 35,6%, hàm lượng protein 11,4%, lipid 35,5% và tro khoáng 2,4%.
- Hạt chứa dầu thực vật với tỷ lệ dao động từ 30,8 đến 51,78%. Ngoài ra, hạt còn phong phú protein (21%) và tinh bột (12%).
- Trong mô tế bào của cây trôm, các nhà nghiên cứu đã phát hiện ra một lượng nhỏ hoạt chất acid béo cyclopropenoid. Theo giả thuyết của các chuyên gia, hoạt chất này có khả năng phòng chống sự xâm nhập của các tác nhân nấm bệnh.
Công dụng của Mủ trôm
Theo y học cổ truyền
- Trong y học cổ truyền, dầu từ hạt trôm được ghi nhận có tính dịu, màu sắc vàng nhạt; công dụng chủ yếu là nhuận tràng và lợi tiện. Nhựa mủ được sử dụng để giải khát. Vỏ thân cây có tác dụng phát hãn và thúc đẩy tiểu tiện. Nước chiết từ vỏ quả chứa chất nhầy đặc biệt, có khả năng se khít và làm chắc da.
Theo y học hiện đại
- Theo các tài liệu y học quốc tế, mủ trôm được ghi nhận sở hữu những tác dụng sau:
- Ức chế sự phát triển của vi sinh vật gây bệnh và giảm các phản ứng viêm.
- Mềm mại đường ruột, thúc đẩy tiết mồ hôi và tăng cường tiểu tiện.
- Nước sắc từ vỏ quả thể hiện tính chất se khít mô mềm.
Liều dùng và cách dùng Mủ trôm
- Dầu từ hạt trôm có thể được áp dụng trong chế biến thực phẩm qua các phương pháp xào nấu, tuy nhiên ứng dụng chính của nó là làm nhiên liệu thắp sáng. Bột được tách từ hạt có tính ăn được và thường được dùng để chế tạo các sản phẩm bánh.
- Trong thực hành lâm sàng, lá được sắc nước dùng rửa vết thương mở, vết loét để sát khuẩn và điều trị một số tình trạng bệnh ngoài da. Dịch tươi ép từ lá non được kết hợp với Piper cubela L. để hỗ trợ giảm ho. Hạt đôi khi được sử dụng nhằm mục đích nhuận tràng, tẩy độc cơ thể, đồng thời cũng được khai thác như thực phẩm dinh dưỡng.
Bài thuốc kinh nghiệm
- Hiện chưa có thông tin về (H2) Bài thuốc kinh nghiệm được ghi chép.
Lưu ý khi dùng Mủ trôm
- Cần cẩn trọng khi sử dụng dược liệu này ở những bệnh nhân đang trong quá trình điều trị bằng các loại thuốc khác, vì có nguy cơ xảy ra tương tác dược lý không mong muốn.
- Vỏ thân và hạt trôm ở liều lượng cao có khả năng kích thích sẩy thai, do đó chống chỉ định hoàn toàn đối với phụ nữ có thai, phụ nữ đang nuôi con bằng sữa mẹ; cũng không nên sử dụng ở bệnh nhân có khối u trong ống tiêu hóa.
- Vì hạt trôm chứa lượng dầu cao, việc tiêu thụ một lượng lớn có thể gây ra các triệu chứng như buồn nôn, chóng mặt và các rối loạn tiêu hóa.
Nguồn tham khảo
Từ điển cây thuốc Việt nam – Võ Văn Chi.
Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi.
Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam (Tập 1).
Tra cứu dược liệu: https://tracuuduoclieu.vn/sterculia-foetida-l.html
Bài viết này có hữu ích không?
Có0Không0

