Lức là dược liệu thuộc họ Cúc, có tác dụng chữa bệnh, đặc biệt là hạ sốt và điều trị các hội chứng cảm cúm. Bộ phận sử dụng là phần rễ và lá, chứa các hợp chất triterpenoid và có khả năng ức chế hoạt động của một số chủng vi khuẩn gây bệnh. Công dụng của lức bao gồm tán phong nhiệt, thúc đẩy tiểu tiện và điều hòa chu kỳ kinh nguyệt. Liều dùng và cách dùng lức thường dao động từ 8-20g mỗi ngày, có thể kết hợp với các vị thuốc bổ trợ khác.
Tìm hiểu chung về Lức
Tên gọi, danh pháp
- Tên Việt: Lức (Lá và Rễ).
- Tên gọi khác: Lức, lức cây, Sài hồ nam, Nam sài hồ.
- Danh pháp khoa học: Pluchea pteropoda Hemsley.
- Thuộc họ Asteraceae (Cúc).
Đặc điểm tự nhiên
- Lức là loài cỏ lâu năm với khối lượng sinh khối dày đặc chắc chắn, thân cao 30 – 40 cm, trong điều kiện tối ưu có thể đạt 70 cm, phần ngọn mang mật độ lá khá cao. Lá mọc cách nhau, hình thìa đặc trưng, phần gần cuống hẹp dần, mép lá có răng cưa rõ rệt, bề mặt lá dày và có khả năng tiết mùi thơm; mặt trên có màu xanh đậm hơn so với mặt dưới, kích thước khoảng 3 – 5 cm chiều dài và 1,5 – 2 cm chiều rộng. Cụm hoa có hình đầu tròn, màu đỏ nhạt, mọc gần như không có cuống, tập trung thành 2 đến 4 nhóm. Lá bắc (bracts) trơn nhẵn, hình bầu dục, các lá bắc trong cùng nhỏ hơn rõ rệt. Quả là loại quả bế có 10 cạnh, hình trụ. Chu kỳ ra hoa và quả diễn ra từ tháng 5 đến tháng 7 hàng năm.
Phân bố, thu hái, chế biến
- Lức phân bố tập trung ở các vùng ven biển nhiệt đới của châu Á, từ phía nam Trung Quốc kéo dài đến Việt Nam, Campuchia và Thái Lan. Tại Việt Nam, dương cây mọc hoang ở các vùng đất mặn như Quảng Ninh, Nam Định, Hà Nam, Ninh Bình (vùng chợ cồn hướng tới Hải Triều). Dương cây có khả năng thích nghi xuất sắc với vùng nước lợ; ngoài ra loài này còn sinh trưởng tốt ở vùng nước ngọt hoặc vùng nước có độ mặn thay đổi, vì vậy sinh cảnh ưa thích chủ yếu là cửa sông, ven kênh rạch, ven đường giao thông, bờ ruộng cao ở khu vực ven biển. Lức là cây yêu thích ánh sáng, thường mọc thành từng khóm độc lập; trong một số trường hợp, chúng hình thành các quần thể tương đối ổn định dọc theo các bờ kênh. Cây ra hoa và quả liên tục hàng năm. Hạt giống được phát tán nhờ tác động của gió hoặc dòng nước chảy. Những cây đã trưởng thành có khả năng chịu ngập nước trong vài ngày vào mùa mưa lũ.
Bộ phận sử dụng
- Phần rễ và lá của cây lức được khai thác làm dược liệu. Rễ được thu hái quanh năm, sau khi đào lên phải cắt bỏ rễ mao, rửa sạch bề mặt, sau đó phơi nắng hoặc sấy khô; có thể xử lý thêm bằng cách tẩm rượu hoặc mật ong rồi rang nóng để tăng hương vị. Những cành có lá còn non cũng được thu hái quanh năm, có thể sử dụng tươi, phơi khô hoặc chế biến thành cao chiết.
Thành phần hóa học
- Phần trên mặt đất của cây lức chứa các hợp chất triterpenoid gồm taraxasteryl acetat. Từ chiết xuất rễ, các nhà nghiên cứu đã phân lập được Hop – 17 (21) – en – 3β – yl acetate cùng với 2 – (pent – 1,3 – diynyl) – 5 – (3,4 – dihidroxybut – 1 – ynyl) – tiophene. Các hoạt chất có mặt trong cây lức đã được chứng minh có khả năng ức chế hoạt động của một số chủng vi khuẩn gây bệnh phổ biến ở con người, cụ thể là Escherichia coli, Staphylococcus aureus, Proteus mirabilis và Proteus vulgaris.
Công dụng của Lức
Theo y học cổ truyền
- Lá và rễ lức được ghi nhận có vị mặn kết hợp với tính đắng nhẹ, bản chất tính mát, phát huy tác dụng tán phong nhiệt, thúc đẩy tiểu tiện, điều hòa chu kỳ kinh nguyệt.
Theo y học hiện đại
- Trong các công trình nghiên cứu do Lê Minh Xuân và Phạm Thị Bích Thuận (Viện Y học dân tộc) thực hiện trên viên cảm cúm sản xuất từ dược liệu này, kết quả cho thấy: Khi sử dụng với liều 0,3 g/kg thân trọng trên mô hình chuột cống bị gây sốt bằng men bia, viên thuốc đã làm giảm thân nhiệt 0,2°C vào thời điểm 3 giờ sau dùng. Trong thực hành lâm sàng với 45 bệnh nhân sốt cao, sau 30 phút uống viên thuốc đã ghi nhận 40 ca hạ sốt thành công, trong đó 68,9% bệnh nhân có mức hạ sốt từ 0,5 đến 1,5°C.
- Theo các nhà nghiên cứu Lưu Thị Thiên Hương và Phan Văn Minh trong quá trình đánh giá tác dụng dược lý và hiệu quả lâm sàng của chè giải cảm (chế phẩm chứa lá lức làm thành phần chủ yếu), kết luận như sau: Trên động vật thí nghiệm, chè này thể hiện khả năng hạ nhiệt rõ ràng (giảm 0,63°C), đi kèm với tiểu tiện tăng, kích thích nhu động ruột, nhưng không gây ảnh hưởng lợi mật. Trên bệnh nhân lâm sàng, chè giải cảm cho thấy tác dụng hạ sốt kéo dài, tiểu tiện nhẹ, an thần, làm giảm cảm giác đau, không tác động xấu đến hô hấp và huyết áp.
Liều dùng và cách dùng Lức
- Lức được vận dụng thay thế cho sài hồ bắc nhằm mục đích hạ sốt và điều trị các hội chứng cảm cúm. Liều lượng thường dùng dao động từ 8 – 20g mỗi ngày.
- Trong thực tiễn lâm sàng, dược liệu này thường được kết hợp với các vị thuốc bổ trợ như Tía tô, Kim ngân hoa, Mạn kinh tử, Kinh giới và Cam thảo đất để tăng hiệu quả.
- Lá lức sở hữu mùi hương đặc trưng, có thể ứng dụng để xông khí. Theo kinh nghiệm dân gian, người ta thường giã nát lá kết hợp với cành non tươi, trộn thêm một ít rượu, sau đó xào nóng và敷 dán lên các vùng đau nhức ở hai bên thắt lưng để giảm nhức mỏi hiệu quả.
Bài thuốc kinh nghiệm
Chữa sốt cao kèm theo nhức đầu, khát nước:
- Rễ sài hồ nam 20g, ngũ gia bì 20g, rau má 16g, lá tre 12g, cam thảo dây 12g, bán hạ 12g, sao vàng gừng tươi 6g. Sau khi phơi khô toàn bộ các vị, sắc với 400ml nước, lấy còn 100ml, chia làm 2 lần uống trong ngày trước bữa ăn.
Viên cảm cúm của Viện Y học dân tộc thành phố Hồ Chí Minh:
- Thành phần mỗi viên gồm: bột lá sài hồ nam 150mg, cao cùng cây (1:1) 100mg, bột trần bì 24mg, bột cam thảo nam 16mg, bột thủy xương bồ 24mg, bột lá bạc hà 24mg, bột mịn phèn phi 20mg. Cách dùng: ngày uống 2 – 4 viên, chia làm 2 lần.
Chè giải cảm:
- Thành phần: lá sài hồ nam 4 phần, nhân trần 1 phần, bạc hà 1 phần, cam thảo nam 1 phần. Cách dùng: hãm uống như trà thông thường.
Lưu ý khi dùng Lức
Kiêng kỵ:
- Những người có thể trạng âm hư hoặc can dương vượt trội không nên sử dụng dược liệu này, vì tính chất mát của lức có thể làm suy yếu thêm các chức năng sinh lý đã suy giảm.
- Phụ nữ trong giai đoạn mang thai cần tránh tự ý sử dụng lục mà không có hướng dẫn từ các chuyên gia y học, nhằm đảm bảo an toàn cho thai kỳ.
Nguồn tham khảo
1. https://tracuuduoclieu.vn/sai-ho-nam.html
2. Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi

