Cây hoàn ngọc, với tên khoa học Pseuderanthemum latifolium, là một loài thực vật có nhiều công dụng trong lĩnh vực y học. Đặc biệt, nó có tính kháng khuẩn, kháng nấm và hoạt tính thuỷ phân protein, giúp tiêu mủ và làm tan mụn lồi hiệu quả. Ngoài ra, hoàn ngọc còn được sử dụng để điều trị các vấn đề về đường tiêu hóa, viêm đại tràng, đau bụng và các vấn đề về gan. Tuy nhiên, để sử dụng hoàn ngọc một cách an toàn và hiệu quả, cần phải tuân theo liều dùng và cách dùng được khuyến cáo, cũng như tham khảo ý kiến của bác sĩ hoặc chuyên gia y học.
Tìm hiểu chung về Hoàn ngọc
Tên gọi, danh pháp
- Tên Việt: Hoàn ngọc.
- Tên gọi khác: Xuân hoa; cây con khỉ; nhật nguyệt; tu lình; trạc mã; cây mặt quỷ; và các tên địa phương khác.
- Danh pháp khoa học: Pseuderanthemum latifolium.
Đặc điểm tự nhiên
- Hoàn ngọc là cây bụi sống lâu năm, có chiều cao trưởng thành từ 1 – 2 m. Thân non mang sắc xanh lục, phân thành nhiều nhánh mảnh manh, phần gốc thân hóa gỗ và chuyển sang màu nâu. Lá mang hình mũi mác, sắp xếp đối xứng trên thân, có chiều dài 12 – 17 cm, gốc lá hẹp dần, mũi lá nhọn, cạnh lá trơn không có răng cưa.
- Hoa tập trung thành cụm nằm ở kẽ lá hoặc phần ngọn cành, kéo dài 10 – 16 cm theo hình xim; hoa lưỡng tính, màu trắng có tô điểm tím, đài hoa gồm 5 lá tách rời, tràng hoa hợp có ống hẹp và dài; bao phấn mang màu tím, hình bầu, bề mặt trơn với 2 ô phấn.
- Quả của hoàn ngọc là quả nang, chứa bên trong 4 hạt.
Phân bố, thu hái, chế biến
- Về phạm vi phân bố tại Việt Nam, chi Pseuderanthemum Radlk cho đến nay vẫn chưa được xác định rõ ràng số lượng loài chính xác. Theo tài liệu của Raymond Bemost (1939) ghi nhận 7 loài; theo Phạm Hoàng Hộ (1993) là 9 loài; theo Nguyễn Tiến Bản (1997) là 10 loài. Các tài liệu này đều xác nhận hoàn ngọc là loài thực vật tự nhiên ở các vùng núi, và trong những năm gần đây đã được nhân dân trồng rải rác.
- Hoàn ngọc ưa cơ địa ẩm ướt, ưa điều kiện sáng, có thể chịu được bóng nhẹ khi cây còn nhỏ. Cây trồng phát triển mạnh nhất trong khoảng thời gian xuân – hè, sang mùa đông xuất hiện hiện tượng rụng lá một phần. Cây hoàn ngọc cần trồng trên 1 năm mới bắt đầu ra hoa; cây tự tái sinh chủ yếu từ hạt, song hoàn ngọc cũng có khả năng tái sinh chồi mầm sau khi bị chặt, hoặc có thể tái sinh thành cây hoàn chỉnh khi cắm cành hay giâm cành.
- Hoàn ngọc được thu hái trong suốt năm.
Bộ phận sử dụng
- Phần được khai thác dùng làm dược liệu gồm lá, rễ, hoặc có thể dùng toàn bộ cây.
Thành phần hóa học
- Hoàn ngọc chứa các nhóm hợp chất chính gồm sterol, flavonoid, đường khử, carotenoid và acid hữu cơ.
- Tổng cộng 7 chất đã được tách lập và xác định cấu trúc, trong đó 4 chất chính định danh là: Phytol, β-sitosterol, hỗn hợp đồng phân Epimer của Stigmasterol và Poriferasterol.
- Lá tươi của hoàn ngọc chứa: diệp lục toàn phần 2,65 mg/g, protein hòa tan 25,5 mg/g, polysaccharide hòa tan 0,80%, cùng với các chất khoáng quan trọng gồm Ca 875,5 mg%, Mg 837,6 mg%, K 587,5 mg%, Na 162,7 mg%, Fe 38,75 mg%, Al 37,5 mg%, V 3,75 mg%, Cu 0,43 mg%, Mn 0,34 mg%, Ni 0,19 mg%.
- Ngoài ra, hoàn ngọc còn chứa enzyme với hoạt tính cao ở điều kiện pH 7,5 và nhiệt độ 70°C.
Công dụng của Hoàn ngọc
Tính kháng khuẩn, kháng nấm:
- Khi tiến hành khảo sát hoạt tính kháng khuẩn và kháng nấm của cao đặc chiết methanol từ hoàn ngọc trên các chủng vi sinh vật, các kết quả thu được như sau:
- Đối với vi khuẩn Escherichia coli, nồng độ tối thiểu ức chế (MIC) của mẫu hoàn ngọc từ vườn thực vật Trường Đại học Dược Hà Nội là 200mcg/ml, trong khi mẫu từ vườn quốc gia Cúc Phương cho MIC là 400mcg/ml; tuy nhiên chưa ghi nhận được tác dụng ức chế trên vi khuẩn Pseudomonas aeruginosa.
- Với các chủng nấm, cao chiết thô không thể ức chế Aspergillus niger ở nồng độ 400mcg/ml, nhưng lại có khả năng ức chế các chủng Fusarium oxysporum, Rhizoctonia solani, Saccharomyces cerevisiae và Candida albicans với MIC là 200mcg/ml. Khi tiến hành phân đoạn chiết, hoạt tính ức chế được tăng cường đáng kể, mạnh hơn so với cao chiết thô khoảng 4 đến 5 lần.
Hoạt tính thuỷ phân Protein (Proteinase):
- Theo kinh nghiệm dân gian lâu đời, khi giã lá hoàn ngọc và đắp trực tiếp lên vùng tổn thương, dược liệu có khả năng tiêu mủ và làm tan mụn lồi hiệu quả.
- Trong các nghiên cứu dược lý, lá hoàn ngọc được nghiền mịn kèm mercaptoethanol, sau đó chiết bằng dung dịch đệm phosphat có nồng độ 0,05 đến 0,1 M ở pH 7,6 với tỷ lệ 1 : 20. Mẫu được khuấy nhẹ bằng máy khuấy từ trong vòng 30 phút, tiếp theo ly tâm ở 12000 vòng/phút trong 10 phút ở 4°C. Dịch chiết thu được được định lượng hoạt tính proteinase với những phát hiện sau:
- Dịch chiết từ lá thể hiện khả năng thuỷ phân protein tương đối mạnh, đạt hoạt tính tối đa tại pH 7,5 và nhiệt độ 70°C.
- Enzym proteinase thể hiện độ bền tốt khi lá hoàn ngọc được phơi khô ở 60°C, với hoạt tính còn lại khoảng 30%. Nếu bảo quản dịch chiết proteinase ở nhiệt độ 4°C trong khoảng thời gian 1 tháng, mức độ giảm hoạt tính là tương đối nhỏ.
- Quy trình tinh chế proteinase dẫn đến gia tăng hoạt tính gấp 5 lần, đạt mức cao nhất 1,912lU/mg proteinase.
Tác dụng ức chế MAO (Monoaminoxydase):
- Lá hoàn ngọc được chiết bằng methanol sau đó cô đặc, ở nồng độ 6mg/ml cho thấy khả năng ức chế 69,9% hoạt tính MAO. Trong thí nghiệm, nguồn MAO được cô lập từ mitochondri của gan chuột cống và kynuramin được sử dụng làm cơ chất phản ứng.
Tác dụng bảo vệ gan:
- Chế phẩm được sử dụng là cao toàn phần từ lá xuân hoa đã loại bỏ hoàn toàn chlorophyll. Trong mô hình thí nghiệm, hai nhóm chuột nhắt trắng được thiết lập: nhóm thực nghiệm được cho uống cao liên tục trong 3 ngày, mỗi ngày 250mg/kg; nhóm chứng không được cho thuốc. Vào ngày thứ ba sau khi kết thúc uống thuốc được 1 giờ, tổn thương gan được gây ra ở cả hai nhóm thông qua tiêm tetrachloride carbon (CCI4). Tác nhân CCI4 kích hoạt quá trình peroxy hóa lipid ở màng tế bào gan, làm tăng nồng độ malonyl dialdehyd (MDA) trong mô gan. Vào ngày thứ tư, máu được lấy để xét nghiệm các enzym gan và mô gan được lấy để định lượng MDA.
- Ở nhóm chứng gây tổn thương gan bằng CCI4 liều 0,5ml/kg, hàm lượng MDA tăng 95,8%; trong khi nhóm chuột được sử dụng cao kết hợp CCI4 chỉ ghi nhận mức tăng MDA là 5,9% so với lô chứng âm tính. Khi nâng liều CCI4 lên 1ml/kg, nhóm chứng ghi nhận hàm lượng MDA tăng 180,6%; nhóm dùng cao kết hợp CCI4 chỉ tăng 112,9%.
- Các chỉ số enzym gan ASAT và ALAT ở nhóm chứng dùng CCI4 liều 0,5ml/kg tăng gấp 2 lần, trong khi nhóm dùng cao kết hợp CCI4 thể hiện hoạt tính enzym gần như ổn định.
Các ứng dụng lâm sàng ghi nhận:
- Theo cơ sở dữ liệu NAPRALERT (nền tảng thông tin về cây thuốc toàn cầu của Trường Đại học Illinois tại Chicago, Hoa Kỳ), cho đến ngày 5/4/2007, cộng đồng khoa học quốc tế vẫn chưa công bố các tài liệu về tác dụng dược lý của hoàn ngọc lá hoa (Pseuderanthemum bracteatum).
- Lá hoàn ngọc được áp dụng trong thực hành lâm sàng và dân gian để điều trị: đau bụng do nhiễm khuẩn đường tiêu hóa, tiêu chảy, chữa lành vết thương, tiêu mủ và mụn lồi.
- Toàn bộ cây hoàn ngọc lá hoa vẫn tiếp tục được sử dụng trong phạm vi các cộng đồng dân gian.
- Tại khu vực Thái Bình, bộ phận trên mặt đất của cây hoàn ngọc lá hoa được khai thác để điều trị viêm đại tràng cấp tính và mạn tính, đau bụng do co thắt, cảm giác đầy hơi và chướng bụng, sôi bụng, trĩ xuất huyết, hiện tượng đi ngoài ra máu, chảy máu cam, cũng như chảy máu do chấn thương các mô mềm.
- Tại địa phương Hoà Bình, hoàn ngọc lá hoa được sử dụng trong điều trị cao huyết áp.
- Tại khu vực Thái Nguyên, hoàn ngọc lá hoa được khai thác để điều trị viêm loét dạ dày – tá tràng có kèm theo chảy máu với hiệu quả khá tốt. Ngoài ra, phần lá non còn có thể được sử dụng như gia vị ăn kèm với nem chạo và gỏi để tăng hương vị chua chát, đồng thời giúp giảm bớt cảm giác đầy bụng.
Liều dùng và cách dùng Hoàn ngọc
- Dùng trong: Lá và thân được phơi khô sau đó sắc cùng nước. Liều uống khuyến cáo cho người trưởng thành nằm trong khoảng 10 đến 12g mỗi ngày.
- Dùng ngoài: Lá tươi được giã nát và đắp trực tiếp lên vùng tổn thương, sau đó cố định bằng băng. Liều dùng ngoài dao động từ 10g đến 30g.
Bài thuốc kinh nghiệm
- Đau dạ dày do loét, viêm: Dùng không quá 7 lá mỗi lần, 2 lần mỗi ngày, ăn khi đói. Tổng lượng dùng khoảng 50 lá sẽ đạt hiệu quả.
- Chảy máu đường ruột: Giã nát lá tươi lấy nước và uống, dùng khoảng 7 đến 10 lá mỗi lần. Sau 1 đến 2 lần dùng sẽ cải thiện.
- Viêm đại tràng co thắt: Tiêu thụ khoảng 100 lá, kết hợp cùng lá mơ lông trong các bữa ăn thường xuyên. Khoá điều trị kéo dài từ 1 đến 2 tháng.
- Viêm gan, xơ gan cổ trướng: Dùng 7 lá mỗi lần, 2 đến 3 lần mỗi ngày. Tổng lượng dùng đạt khoảng 150 lá.
- Đau thận, viêm thận, đau thường xuyên: Sử dụng khoảng 30 lá để giảm cơn đau cấp, không vượt quá 50 lá, 3 lần mỗi ngày, mỗi lần 3 đến 7 lá.
- Tả lỏng, đi lỵ, rối loạn tiêu hóa: Dùng 7 đến 15 lá mỗi lần, 2 lần là đạt hiệu quả.
- Mệt mỏi toàn thân: Ăn 2 lần, mỗi lần 3 đến 7 lá.
- Đái dắt, đái buốt, đái dục, đái ra máu: Tiêu thụ 14 đến 21 lá hoặc giã nát lá lấy nước đặc để uống.
Lưu ý khi dùng Hoàn ngọc
- Hoàn ngọc là loài thực vật phân bố rộng rãi tại nhiều địa phương. Dù có nguồn gốc từ tự nhiên, dược liệu này vẫn sở hữu những chỉ định, chống chỉ định cụ thể cùng các tác dụng phụ tiềm ẩn. Việc tự ý sử dụng hoặc tuân theo bài thuốc kinh nghiệm mà không có hướng dẫn chuyên môn có thể gây rủi ro cho sức khỏe. Cần phải trao đổi với bác sĩ hoặc chuyên gia y học để nắm rõ đặc điểm thể chất cá nhân và áp dụng phương pháp sử dụng dược liệu một cách an toàn, khoa học và tối ưu hóa hiệu quả điều trị.
Nguồn tham khảo
Tra cứu dược liệu Xuân hoa: https://tracuuduoclieu.vn/xuan-hoa.html

