Cây Hoàng nàn: Vị thuốc quý có độc và những lưu ý khi dùng

bởi thuvienbenh

Cây Hoàng nàn với hàm lượng alkaloid mạnh mẽ không chỉ giúp đẩy lùi phong hàn mà còn là “khắc tinh” của các chứng đau nhức xương khớp và bệnh ngoài da cứng đầu. Tuy nhiên, ranh giới giữa độc thuốc và dược tính rất mong manh, đòi hỏi quy trình bào chế nghiêm ngặt để loại bỏ nguy hiểm. Sử dụng đúng liều lượng theo chỉ định sẽ giúp khai thác tối đa khả năng thông kinh lạc, mang lại sự linh hoạt và khỏe mạnh cho hệ vận động.

Tìm hiểu chung về Hoàng nàn

Tên gọi, danh pháp

  • Hoàng nàn còn được gọi bằng các tên gọi khác như Vỏ doãn, Mã tiền lá quế, với danh pháp khoa học là Strychnos wallichiana Steud. Loài thực vật này được phân loại thuộc họ Mã tiền (Loganiaceae).

Đặc điểm tự nhiên

  • Hoàng nàn là một loài thực vật leo theo dạng thân mây, cành mảnh và nhẵn bóng, phát triển những gai sắc nhọn mọc đối xứng tại đầu các cành non non; thân cây có bề mặt vỏ xám với những đốm màu vàng đỏ nổi bật.
  • Lá sắp xếp đối diện, bề mặt láng bóng và chất lượng dai cứng, hình dạng hơi bầu dục, phần gốc lá nhọn hoặc hơi tròn, phần đầu tù hay nhọn, kích thước dao động 6 – 12 cm chiều dài và 3 – 6 cm chiều rộng, cuống lá ngắn gọn. Hoa không có cuống riêng, mọc liền thành chùy ở phần đầu cành, được phủ một lớp lông mịn màu hung nâu.
  • Quả có hình cầu, đường kính 4 – 5 cm, vỏ cứng dày 4 mm, bên trong chứa nhiều hạt hình cúc áo với đường kính vượt quá 22 mm, dày 18 mm, hình dáng tương tự như hạt mã tiền, điều này dẫn đến nhận định rằng hoàng nàn có thể là vỏ của cây mã tiền. Theo quy ước khai thác, khi thu lấy vỏ gọi là hoàng nàn, khi thu lấy hạt gọi là mã tiền.

Phân bố, thu hái, chế biến

  • Theo các công trình nghiên cứu thực địa trước đây, hoàng nàn được ghi nhận phân bố tự nhiên chỉ ở một số địa điểm cụ thể trong vùng miền Bắc Việt Nam, bao gồm Hà Tây (Ba Vì), Thanh Hoá, Lai Châu, Nghệ An, Hà Tĩnh. Tương tự, ở Lào cũng phát hiện cây khu trú trên cùng vĩ độ. Có thể ở các vùng này chỉ khai thác phần vỏ nên được gọi là hoàng nàn, trong khi các vùng khác chỉ khai thác phần hạt nên được gọi là cây mã tiền. Vấn đề này cần được xác minh rõ thêm trong tương lai.
  • Quá trình khai thác thông thường bắt đầu bằng việc chặt cả cành cây, cắt thành những đoạn ngắn, sau đó mang về địa điểm để bóc tách vỏ. Vỏ khai thác có chiều dài 4 – 5 cm, cuộn tròn hình ống, độ dày 1,5 – 2 mm, đường kính 1 – 3 cm; mặt bên ngoài có nhiều nốt sần sùi màu đỏ nâu hoặc xám đen, với những nốt sần to nổi bật; mặt bên trong có màu xám nâu nhạt, chứa những vết kẻ dọc và vết bẻ láng, có thể nhận biết rõ hai lớp cấu trúc. Khi thử nghiệm bằng cách nhỏ một giọt acid nitric vào mặt trong, vỏ thể hiện màu đỏ như máu, còn mặt ngoài chuyển thành màu xanh lục đen. Vị của vỏ rất đắng chát.
  • Trước đây, vỏ cây hoàng nàn được lưu thông tự do tại nhiều địa điểm, các cửa hàng tạp hoá khắp nơi đều có sẵn để bán cho người dân mua về chế biến thành thuốc trị hủi và các bệnh ngoài da khó điều trị cũng như các trường hợp bị chó dại cắn. Hiện tại, hoạt động buôn bán phải tuân thủ theo quy định về quản lý thuốc độc.
  • Khi chuẩn bị sử dụng, thông lệ phải cạo sạch toàn bộ lớp vỏ màu vàng bên ngoài cho tới khi lộ ra lớp vỏ đen bên trong. Để thuận tiện trong quá trình cạo, có thể ngâm vỏ trong nước vo gạo đặc trong suốt một ngày một đêm, hoặc ngâm nước thường rồi nấu nóng để làm mềm vỏ. Tiếp theo, ngâm lại trong nước vo gạo trong ba ngày ba đêm liên tục, sau đó vớt ra và phơi hoặc sấy khô, tán thành bột mịn rồi dùng. Ngoài ra, cũng có phương pháp tẩm dầu vừng sau khi rang nóng trước khi tán bột. Lớp vỏ vàng cạo ra cũng như nước ngâm hoàng nàn đều phải xử lý và đổ bỏ cẩn thận để tránh nguy cơ ngộ độc.
Xem thêm:  Tứ Nghịch Thang – Bài thuốc hồi dương cứu nghịch trong y học cổ truyền

Bộ phận sử dụng

  • Bộ phận vỏ thân và vỏ cành của cây hoàng nàn được khai thác quanh năm. Để sấy khô, người ta phơi dưới ánh nắng mặt trời hoặc sử dụng lửa vừa phải.
  • Dược liệu dạng thành phẩm gồm những mảnh vỏ có kích cỡ không đều nhất, cuộn lại hoặc uốn cong thành rãnh. Kích thước dao động khoảng 5 – 12 cm (theo chiều dài) x 2 – 4 cm (theo chiều ngang), độ dày khoảng 0,1 – 0,2 cm. Bề mặt ngoài dược liệu có phân bố dày đặc các nốt sần sùi màu đỏ nâu hoặc nâu, bề mặt bên trong thể hiện màu đen sẫm. Vỏ dược liệu có tính giòn cao và dễ bẻ gãy, mặt bẻ không nhẵn bóng, vị cảm nhận rất đắng.

Thành phần hóa học

  • Hoàng nàn chứa hai alkaloid chính là strychnin và brucin, những hoạt chất quan trọng quyết định tác dụng dược lý của dương liệu. Tổng hàm lượng alkaloid có thể đạt 5,23%, trong đó brucin chiếm tỷ lệ 2,81% và strychnin chiếm 2,37 – 2,43%. Tuy nhiên, sự hiện diện của chất nhựa kèm theo tạo ra những khó khăn đáng kể trong quá trình chiết xuất các alkaloid này bằng những phương pháp chiết xuất thông thường.

Công dụng của Hoàng nàn

Theo y học cổ truyền

  • Vị: Đắng, tính lạnh mạnh, độc tính cao.
  • Quy kinh: Vào kinh Tỳ và Can.
  • Công dụng: Tác dụng trừ phong hàn, giảm đau nhức, thông kinh lạc hiệu quả. Khử khuẩn trong đường hô hấp, hỗ trợ long đờm và làm cho đờm dễ được khạc ra.

Theo y học hiện đại

  • Do hoàng nàn chứa strychnin ở nồng độ rất thấp, dược liệu phát huy tác dụng kích thích hệ thần kinh trung ương và ngoại vi, nhưng dễ gây ra các triệu chứng không mong muốn như cơn co giật, buồn nôn, sợ ánh sáng.
  • Cơ chế hoạt động của strychnin: Hoạt chất này tác động bằng cách đối kháng chọn lọc và cạnh tranh glycine tại các thụ thể glycine trên tủy sống.
  • Kích thích các phản xạ tủy sống, tăng khả năng dẫn truyền thần kinh cơ, nâng cao dinh dưỡng và hoạt động cơ bắp. Lâm sàng thường áp dụng để điều trị đau thần kinh ngoại biên, đau khớp, tê liệt, suy nhược, đái dầm và liệt dương.
  • Gây kích thích hệ tiêu hóa, tăng nhu động ruột, cải thiện cảm giác ngon miệng, hỗ trợ tiêu hóa, và tăng tiết dịch vị tự nhiên.
  • Kích thích các trung tâm thần kinh đặc hiệu như thị giác, thính giác, khứu giác, từ đó nâng cao độ nhạy cảm của các cơ quan cảm giác.
  • Ở liều lượng cao, hoàng nàn gây kích thích mạnh mẽ tủy sống, dẫn tới tăng các phản xạ và khởi phát cơn co giật tương tự như co giật uốn ván.

Liều dùng và cách dùng Hoàng nàn

  • Hoàng nàn được công nhận là vị thuốc có độc tính cao. Tuy vậy, nhân dân ở nhiều địa phương trong cả nước vẫn sử dụng hoàng nàn để điều trị bệnh dại, bệnh phong, bệnh ghẻ và một số tình trạng ngoài da khó điều trị. Ngoài ra, còn có các phương thuốc dân gian áp dụng hoàng nàn trong trị liệu thấp khớp.
  • Trong điều trị bệnh ghẻ, hoàng nàn thường được phối hợp với thủy ngân và lá trầu không để tăng hiệu quả. Trước khi sử dụng, hoàng nàn cần phải được chế biến theo quy trình thu hái và chế biến đã nêu.
  • Do tính độc của dược liệu, những người thiếu kinh nghiệm tuyệt đối không được tự ý sử dụng.
Xem thêm:  Cây Kim vàng: Cây thuốc nam hỗ trợ trị hen suyễn, cảm cúm

Bài thuốc kinh nghiệm

Đơn thuốc kinh nghiệm chữa tê thấp:

  • Hoàng nàn chế sao vàng 600g, hương phụ tứ chế 160g, đại hồi (bỏ hạt, lấy vỏ) 20g, thảo quả (không sao, bỏ vỏ, lấy hạt) 20g. Bốn vị dược liệu được tán nhỏ thành bột. Liều dùng: 2 – 3g sau mỗi bữa ăn 30 phút, uống bằng nước hoặc rượu. Sau khi uống xong nên đi nằm. Bài thuốc này được sử dụng để chữa nhức xương, tê thấp và sưng đầu gối. Theo kinh nghiệm, một số người cảm thấy đau tăng lên khi bắt đầu dùng, nhưng sau đó triệu chứng sẽ giảm đi.
  • Lưu ý: Bài thuốc chứa hàm lượng alkaloid khoảng 100mg mỗi lần uống, do đó cần thận trọng trong sử dụng. Thông tin này chỉ mang tính chất tham khảo (Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi).

Đơn thuốc kinh nghiệm trị vết loét và mụn ghẻ:

  • Hoàng nàn được điều chế dùng ngoài dưới dạng bột tán, sau đó ngâm trong rượu. Sử dụng kết hợp với lá trầu không, bôi lên các vết loét hoặc mụn ghẻ.

Lưu ý khi dùng Hoàng nàn

  • Dược liệu hoàng nàn chứa các alkaloid độc và strychnin, do đó cần tuân thủ nghiêm ngặt các quy định về liều lượng trong quá trình sử dụng lâm sàng.
  • Mỗi lần dùng không vượt quá 0,1g; tổng liều hàng ngày tối đa được phép là 0,4g.
  • Phụ nữ mang thai bị chống chỉ định tuyệt đối với dược liệu này.
  • Mặc dù hoàng nàn là loài thực vật phổ biến trong tự nhiên và dễ tiếp cận, nhưng dược liệu này có những chỉ định và chống chỉ định rõ ràng cũng như các tác dụng không mong muốn tiềm ẩn. Vì lý do này, người bệnh và gia đình không nên tự phán đoán hoặc áp dụng các bài thuốc kinh nghiệm mà chưa được xác minh bởi chuyên gia y tế.
  • Cần đến gặp bác sĩ hoặc dược sĩ lâm sàng để được đánh giá toàn diện tình trạng sức khỏe cá nhân và nhận được hướng dẫn an toàn trong việc sử dụng dược liệu này.

Nguồn tham khảo

Tra cứu dược liệu Hoàng nàn: https://tracuuduoclieu.vn/hoang-nan.html.

Đỗ Huy Bích , Đặng Quang Chung , Bùi Xuân Chương , Nguyễn Thượng Dong , Đỗ Trung Đàm , Phạm Văn Hiền , Vũ Ngọc Lộ , Phạm Duy Mai , Phạm Kim Mãn , Đoàn Thị Nhu , Nguyễn Tập , Trần Toàn. Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam. Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật Hà Nội.

Đỗ Tất Lợi (2006). Những cây thuốc và vị thuốc VIệt Nam. Nhà xuất bản Y học.

Bài viết này có hữu ích không?
0Không0