Idarubicin là một loại thuốc chống ung thư thuộc nhóm anthracyclin, được sử dụng để điều trị bệnh bạch cầu cấp dòng tủy và ung thư vú tiến triển. Thuốc có khả năng ức chế quá trình tổng hợp acid nucleic, gây độc tính cho tế bào ung thư. Idarubicin được chỉ định kết hợp với các loại thuốc khác để điều trị bệnh bạch cầu cấp dòng tủy ở người trưởng thành và bệnh bạch cầu cấp dòng lympho ở trẻ em.
Tổng quan về Idarubicin
Tên thuốc gốc (Hoạt chất)
- Idarubicin hydrochloride
Loại thuốc
- Chống ung thư loại anthracyclin bán tổng hợp.
Dạng thuốc và hàm lượng
- Dung dịch tiêm: 1 mg/ml. Lọ 5 ml, 10 ml, 20 ml.
- Bột để pha dung dịch tiêm: 5 mg, 10 mg, 20 mg.
- Viên nang: 5 mg, 10 mg.
Chỉ định Idarubicin
- Idarubicin được chỉ định kết hợp với các loại thuốc khác để điều trị bệnh bạch cầu cấp dòng tủy ở người trưởng thành.
- Thuốc cũng được dùng trong phác đồ điều trị bệnh bạch cầu cấp dòng lympho ở trẻ em.
- Ngoài ra, Idarubicin còn được sử dụng để xử trí ung thư vú ở giai đoạn muộn sau khi các liệu pháp hóa trị trước đó (trừ anthracyclin) đã thất bại.
Dược lực học
- Idarubicin, một chất tương tự daunorubicin, được định danh là 4-demethoxy daunorubicin.
- Cơ chế hoạt động của thuốc bao gồm việc chèn vào giữa các cặp base của DNA, từ đó ức chế quá trình tổng hợp acid nucleic.
- Thuốc cũng tương tác với topoisomerase II và màng tế bào, dẫn đến sự thay đổi chức năng màng.
- Những tương tác này được cho là đóng vai trò quan trọng trong cả hiệu quả chống ung thư và độc tính trên tim của Idarubicin.
- Cấu trúc anthracyclin của Idarubicin không chứa nhóm methoxy ở vị trí thứ 4, giúp thuốc có ái lực cao với lipid, qua đó tăng cường khả năng thâm nhập vào tế bào so với các anthracyclin khác.
Dược động học
Hấp thu
- Không giống như các anthracyclin khác (ví dụ doxorubicin, daunorubicin), idarubicin được hấp thu rất nhanh qua đường tiêu hóa sau khi uống. Tuy nhiên, sinh khả dụng của thuốc có thể khác biệt đáng kể giữa các bệnh nhân.
Phân bố
- Ở người lớn mắc bệnh bạch cầu với chức năng gan và thận bình thường, sau khi tiêm tĩnh mạch idarubicin 10 – 12 mg/m2 mỗi ngày trong 3 – 4 ngày (dù dùng đơn trị hay kết hợp với cytarabin), thuốc cho thấy một giai đoạn phân bố nhanh chóng với thể tích phân bố rất lớn, minh chứng cho sự gắn kết mạnh mẽ của thuốc vào các mô.
- Nồng độ cao nhất của thuốc trong các tế bào nhân của máu ngoại vi và trong tủy xương đạt được chỉ trong vài phút sau khi tiêm tĩnh mạch, và mức này cao gấp hơn một trăm lần so với nồng độ trong huyết tương.
Chuyển hóa
- Idarubicin được chuyển hóa bởi enzym aldoketoreductase thành idarubicinol, một dẫn xuất chính có hoạt tính dược lý.
- Idarubicin và chất chuyển hóa idarubicinol gắn kết với protein huyết tương lần lượt với tỷ lệ 97% và 94%.
- Nồng độ của idarubicin và chất chuyển hóa có hoạt tính trong dịch não tủy đã được đo lường, nhưng ý nghĩa lâm sàng của các kết quả này vẫn cần được đánh giá thêm.
- Hiện tại, thông tin về việc idarubicin và các dẫn xuất của nó có đi vào sữa mẹ hay không vẫn chưa rõ ràng.
- Độ thanh thải huyết tương của thuốc cao gấp đôi lưu lượng máu dự kiến ở gan, cho thấy quá trình chuyển hóa ngoài gan diễn ra mạnh mẽ.
Thải trừ
- Idarubicin chủ yếu được chuyển hóa thành idarubicinol, một chất chuyển hóa có hoạt tính, thông qua enzym aldoketoreductase.
- Thuốc trải qua quá trình chuyển hóa ngoài gan một cách đáng kể.
- Sự bài tiết chủ yếu diễn ra qua phân (qua đường mật) và một phần nhỏ hơn qua nước tiểu.
Tương tác thuốc Idarubicin
- Idarubicin có thể làm tăng mức độ hoặc hiệu quả của natalizumab và vắc-xin (sống); vì vậy, tránh dùng chung các thuốc này.
- Ngược lại, Idarubicin làm giảm nồng độ hoặc hiệu quả của các glycosid tim và vắc-xin (bất hoạt).
- Các thuốc như Bevacizumab, nhóm thuốc ức chế P-glycoprotein, các dẫn xuất của taxan và trastuzumab có khả năng làm tăng nồng độ và hiệu quả của Idarubicin.
- Nguy cơ suy tủy có thể tăng lên khi Idarubicin được dùng chung với các thuốc khác cũng gây suy tủy trong điều trị bệnh bạch cầu.
- Độc tính trên tim có thể gia tăng ở những bệnh nhân đã từng điều trị bằng các thuốc kìm tế bào có khả năng gây độc tim.
- Các anthracyclin, bao gồm Idarubicin, có thể tương tác với một số thuốc khác như: vinca alkaloid (gây kháng chéo), amphotericin B (làm tăng hấp thu thuốc), cũng như cyclosporin và streptomycin (làm giảm độ thanh thải thuốc và tăng độc tính).
- Tuy nhiên, phần lớn các tương tác thuốc này mới chỉ được nghiên cứu trong điều kiện in vitro và cần có thêm bằng chứng xác nhận từ các nghiên cứu lâm sàng.
Chống chỉ định thuốc Idarubicin
- Bệnh nhân có tiền sử quá mẫn với Idarubicin, bất kỳ tá dược nào của thuốc, hoặc các anthracycline và anthracenediones khác.
- Tình trạng suy tim sung huyết.
- Suy giảm chức năng gan ở mức độ nặng.
- Suy giảm chức năng thận ở mức độ nặng.
- Các trường hợp nhiễm trùng chưa được kiểm soát.
- Bệnh cơ tim nghiêm trọng.
- Tiền sử nhồi máu cơ tim trong thời gian gần đây.
- Tình trạng loạn nhịp tim nghiêm trọng.
- Suy tủy xương kéo dài.
- Bệnh nhân đã từng được điều trị với liều tích lũy tối đa của idarubicin hydrochloride và/hoặc các anthracycline và anthracenediones khác.
- Phụ nữ đang trong giai đoạn cho con bú.
Liều lượng & cách dùng Idarubicin
Liều dùng Idarubicin
Người lớn
- Đường tiêm: 8 – 12 mg/m2/ngày, dùng trong 3 ngày, tiêm tĩnh mạch chậm (trong 10 – 15 phút) khi kết hợp với cytosin arabinosid.
- Đường uống:
- Đối với bệnh bạch cầu cấp không phải lympho: 30 mg/m2/ngày, dùng liên tục trong 3 ngày (khi dùng đơn trị liệu); hoặc 15 – 30 mg/m2/ngày, dùng trong 3 ngày (khi dùng kết hợp).
- Đối với ung thư vú tiến triển: Uống 45 mg/m2/ngày, dưới dạng liều duy nhất, hoặc 15 mg/m2/ngày trong 3 ngày liên tiếp; liệu trình này được lặp lại mỗi 3 – 4 tuần (khi dùng đơn trị liệu).
Trẻ em
- Đối với bệnh bạch cầu: 10 – 12 mg/m2 x 1 lần/ngày, dùng trong 3 ngày, và lặp lại mỗi 3 tuần.
- Đối với các bệnh u đặc: 5 mg/ml x 1 lần/ngày, dùng trong 3 ngày, và lặp lại mỗi 3 tuần.
Đối tượng khác
- Suy thận: Khi nồng độ creatinin huyết thanh đạt ≥ 2 mg/100 ml, cần giảm liều 25%.
- Suy gan:
- Nếu nồng độ bilirubin nằm trong khoảng 1,5 – 5 mg/100 ml hoặc aspartat transaminase từ 60 – 180 đơn vị, liều dùng cần được giảm 50%.
- Nếu nồng độ bilirubin vượt quá > 5 mg/ml hoặc aspartat transaminase lớn hơn > 180 đơn vị, không được sử dụng thuốc.
Cách dùng thuốc Idarubicin
Khi dùng đường uống
- Đối với bệnh bạch cầu cấp không phải lympho: 30 mg/m2/ngày, dùng liên tục trong 3 ngày (khi dùng đơn trị liệu); hoặc 15 – 30 mg/m2/ngày, dùng trong 3 ngày (khi dùng kết hợp).
- Đối với ung thư vú tiến triển: Uống 45 mg/m2/ngày, dưới dạng liều duy nhất, hoặc 15 mg/m2/ngày trong 3 ngày liên tiếp; liệu trình này được lặp lại mỗi 3 – 4 tuần (khi dùng đơn trị liệu).
Dùng đường tiêm
- Thuốc chỉ được phép dùng theo đường tĩnh mạch. Tuyệt đối không được tiêm bắp hoặc tiêm dưới da.
- Để pha thuốc, lọ idarubicin 5 mg, 10 mg và 20 mg cần được hòa tan tương ứng với 5 ml, 10 ml và 20 ml dung dịch tiêm natri clorid 0,9% để đạt nồng độ cuối cùng là 1 mg idarubicin/ml. Không sử dụng bất kỳ dung môi nào có chứa chất kìm khuẩn. Thuốc phải được tiêm chậm (trong 10 – 15 phút) vào ống dây truyền đang chảy tự do dung dịch natri clorid 0,9% hoặc glucose 5% vào tĩnh mạch. Dây truyền phải được nối với một kim bướm và khuyến nghị nên luồn vào một tĩnh mạch lớn. Dung dịch thuốc không sử dụng phải được loại bỏ.
Chú ý
- Khi pha chế và tiêm truyền thuốc, người thực hiện phải đeo kính bảo vệ, mang găng tay và mặc áo choàng để ngăn ngừa thuốc tiếp xúc với da, đặc biệt là mắt. Nếu thuốc dính vào da, cần rửa sạch ngay lập tức bằng xà phòng và nước thật kỹ. Trong trường hợp thuốc dính vào mắt, phải tiến hành tưới rửa ngay lập tức theo các quy trình chuẩn của nhãn khoa.
Tác dụng phụ của Idarubicin
Thường gặp
- Đau đầu, sốt, co giật, rụng tóc, ban đỏ, mày đay, viêm niêm mạc, buồn nôn, nôn, tiêu chảy, viêm miệng, chán ăn.
- Nước tiểu có màu đỏ, chảy máu, thiếu máu, ức chế tủy xương, giảm bạch cầu (mức thấp nhất thường đạt được trong khoảng 8 – 29 ngày).
- Hoại tử tại vị trí thoát mạch, các dải ban đỏ, rộp da.
- Đau đầu, bệnh thần kinh ngoại biên, thay đổi trạng thái tâm thần, co giật, rối loạn chức năng tiểu não.
- Các biến cố ảnh hưởng đến phổi (39%), các triệu chứng phổi có liên quan đến phản ứng dị ứng (2%).
- Nhiễm khuẩn.
Ít gặp
- Rối loạn nhịp tim, biến đổi trên điện tâm đồ, bệnh cơ tim, suy tim sung huyết, ngộ độc cơ tim, loạn nhịp tim cấp tính đe dọa tính mạng.
- Tăng nồng độ acid uric trong máu, tăng men gan hoặc bilirubin, rối loạn chức năng gan nghiêm trọng.
- Thay đổi kết quả thăm dò chức năng thận, rối loạn chức năng thận nặng.
- Viêm ruột – đại tràng nghiêm trọng, đôi khi có thể dẫn đến thủng.
Hiếm gặp
- Sốc phản vệ, xuất huyết não.
- Viêm màng ngoài tim, viêm cơ tim, block nhĩ thất và block nhánh.
- Loét dạ dày, ban đỏ.
Không xác định tần suất
- Hội chứng ly giải khối u.
Lưu ý khi dùng Idarubicin
Lưu ý chung
- Bệnh nhân lớn tuổi có nguy cơ gặp các biến cố bất lợi cao hơn so với nhóm bệnh nhân trẻ tuổi.
- Nguy cơ độc tính trên tim tăng lên đáng kể ở những người bệnh đã hoặc đang trải qua xạ trị vùng trung thất, mắc thiếu máu, suy tủy, nhiễm khuẩn, viêm màng ngoài tim, bệnh cơ tim, hoặc có suy giảm chức năng gan và/hoặc thận nghiêm trọng.
- Các nghiên cứu lâm sàng có đối chứng đã chỉ ra rằng, ở bệnh nhân trên 55 tuổi, tỷ lệ tử vong do suy tủy khi điều trị bằng idarubicin cao hơn so với khi dùng daunorubicin.
- Cần thực hiện các xét nghiệm định kỳ và lặp lại nhiều lần để đánh giá chức năng gan, thận, công thức máu và chức năng tim trước và trong suốt quá trình điều trị.
- Đo phân suất tống máu thất trái (LVEF) được xem là một phương pháp hiệu quả để sớm phát hiện sự tiến triển nghiêm trọng của bệnh cơ tim.
- Các trường hợp nhiễm khuẩn toàn thân cần được điều trị dứt điểm trước khi khởi trị idarubicin.
- Cần ngăn chặn tình trạng tăng nồng độ acid uric trong máu, vốn xuất phát từ sự phá hủy các tế bào bạch cầu bệnh lý; do đó, việc theo dõi và điều trị nồng độ acid uric là bắt buộc.
- Allopurinol có thể được sử dụng để phòng ngừa bệnh thận do acid uric.
- Việc tăng cường hydrat hóa cũng rất quan trọng để hỗ trợ thận tăng cường thải trừ xanthin.
- Bệnh nhân đang điều trị bằng idarubicin cần được thăm khám và theo dõi cẩn thận nếu có triệu chứng đau bụng, nhằm phòng ngừa nguy cơ thủng ruột.
- Sự thoát mạch của idarubicin có thể dẫn đến hoại tử mô nghiêm trọng tại vị trí tiêm.
- Hiện tượng thoát mạch có thể xảy ra ngay cả khi việc hút máu ngược vào kim truyền vẫn tốt, và có thể không kèm theo cảm giác đau nhói hay bỏng rát.
- Khi xuất hiện các dấu hiệu hoặc triệu chứng của thoát mạch, cần lập tức dừng tiêm hoặc truyền và tiếp tục thực hiện ở một tĩnh mạch khác.
- Trong trường hợp thoát mạch đã xảy ra hoặc nghi ngờ, cần chườm lạnh ngay lập tức bằng túi đá lên vùng bị ảnh hưởng trong 30 phút, sau đó duy trì 4 lần mỗi ngày, mỗi lần 30 phút, trong 3 ngày liên tục; đồng thời nâng cao chi bị ảnh hưởng trong 24 – 28 giờ, sau đó cho phép bệnh nhân trở lại hoạt động bình thường nếu dung nạp được.
- Cần liên tục theo dõi và quan sát; nếu các phản ứng tại chỗ như đau, phù nề, ban đỏ, hoặc nổi phỏng xuất hiện, phải xem xét can thiệp phẫu thuật tạo hình.
- Trong trường hợp loét và đau kéo dài tại vị trí thoát mạch, việc cắt lọc mô tổn thương có thể là cần thiết.
- Tuyệt đối không được chườm nóng hoặc sử dụng natri hydrocarbonat (NaHCO3) vì các phương pháp này có thể làm trầm trọng thêm tổn thương mô cục bộ.
Lưu ý với phụ nữ có thai
- Idarubicin đã được chứng minh có khả năng gây độc cho phôi thai qua các nghiên cứu cả trong ống nghiệm (in vitro) và trên cơ thể sống (in vivo).
- Mặc dù vậy, chưa có nghiên cứu đầy đủ và có kiểm soát nào được thực hiện trên phụ nữ đang mang thai.
- Phụ nữ trong độ tuổi sinh sản cần được tư vấn không nên mang thai trong suốt quá trình điều trị và phải sử dụng các biện pháp tránh thai hiệu quả, an toàn theo chỉ dẫn của bác sĩ.
- Việc sử dụng idarubicin trong thai kỳ chỉ được cân nhắc khi lợi ích điều trị đối với người mẹ vượt trội so với rủi ro tiềm ẩn đối với thai nhi.
- Bệnh nhân phải được cung cấp thông tin đầy đủ về những nguy cơ có thể ảnh hưởng đến thai nhi.
- Đối với những bệnh nhân có kế hoạch sinh con sau khi hoàn tất liệu trình điều trị, việc tư vấn di truyền trước đó nên được xem xét nếu phù hợp và có sẵn dịch vụ.
Lưu ý với phụ nữ cho con bú
- Hiện tại, chưa có thông tin xác định liệu idarubicin hay các chất chuyển hóa của nó có bài tiết vào sữa mẹ hay không.
- Do đó, không khuyến cáo cho con bú trong suốt thời gian điều trị bằng idarubicin.
Lưu ý khi lái xe và vận hành máy móc
- Chưa có nghiên cứu hệ thống nào đánh giá tác động của idarubicin đối với khả năng lái xe hoặc vận hành máy móc.
Quá liều và cách xử lý
Quá liều và độc tính
- Việc sử dụng vượt quá liều khuyến cáo có thể dẫn đến suy tủy xương nghiêm trọng và kéo dài, gây độc tính cấp cho tim; về lâu dài có thể xuất hiện suy tim, và làm tăng độc tính trên đường tiêu hóa.
Xử trí quá liều Idarubicin
- Hiện tại, không có thuốc giải độc đặc hiệu nào cho Idarubicin.
- Việc điều trị chủ yếu là hỗ trợ, bao gồm: truyền tiểu cầu, sử dụng kháng sinh và điều trị các triệu chứng viêm niêm mạc.
- Các phương pháp như thẩm tách màng bụng hoặc thẩm tách thận nhân tạo không được chứng minh là có hiệu quả rõ rệt trong việc điều trị hoặc giảm độc tính của thuốc.
Quên liều và xử trí
- Nếu bệnh nhân bỏ lỡ một liều Idarubicin, cần sử dụng liều đó ngay khi nhớ ra.
- Tuy nhiên, nếu thời điểm nhớ ra gần với liều kế tiếp theo lịch trình, bệnh nhân nên bỏ qua liều đã quên và tiếp tục dùng liều kế tiếp đúng theo kế hoạch ban đầu.
- Tuyệt đối không được uống gấp đôi liều để bù cho liều đã quên.
Nguồn tham khảo
Tên thuốc: Idarubicin
Drugs.com: https://www.drugs.com/monograph/idarubicin.html
Drugs.com: https://www.drugs.com/monograph/idarubicin.html
EMC: https://www.medicines.org.uk/emc/product/2847
EMC: https://www.medicines.org.uk/emc/product/2847
Dược thư Quốc Gia Việt Nam 2015.
Dược thư Quốc Gia Việt Nam 2015.
Ngày cập nhật: 1/10/2021.

